Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Hà Tây Chương 3: Nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Hà Tây 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. HÁI QUÁT RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. hái niệm và đặc điểm rủi ro tín dụng a. Khái niệm: Trong hoạt động kinh doanh, ngân hàng thƣơng mại chịu ảnh hƣởng của nhiều loại rủi ro.
Rủi ro trong hoạt động ngân hàng thƣơng mại là khả năng xảy ra tổn thất ngoài dự kiến, làm giảm thu nhập hoặc giá trị vốn chủ sở hữu ngân hàng. Hoạt động tín dụng là nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu của NHTM, đem lại lợi nhuận lớn nhất nhƣng cũng mang đến rủi ro lớn nhất cho NHTM. Theo quan niệm của Ủy ban Basel thì “Credit risk is most simply defined as the potential that a bank borrower or counterparty will fail to meet its obligations in accordance with agreed terms” [10]. Có nghĩa: rủi ro tín dụng hiểu một cách đơn giản là khả năng khách hàng vay hoặc bên đối tác của ngân hàng không thực hiện đúng cam kết đã thỏa thuận.
Theo khái niệm này thì rủi ro tín dụng có phạm vi khá rộng, không chỉ trong quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với khách hàng mà trong cả các hoạt động khác nhƣ đầu tƣ, phái sinh mà ngân hàng thực hiện. Theo Thông tƣ số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của NHNN: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng (sau đây gọi tắt là rủi ro) là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết” [5]. Từ các khái niệm trên, có thể hiểu rủi ro tín dụng là những khoản tổn thất có khả năng phát sinh trong trƣờng hợp ngân hàng không thu đƣợc đầy đủ cả gốc và lãi của khoản vay, hoặc khách hàng thanh toán nợ gốc và lãi không đúng kỳ hạn. Đặc điểm: - Tính tất yếu: Kinh doanh ngân hàng là kinh doanh rủi ro, theo đuổi lợi nhuận với rủi ro chấp nhận đƣợc là bản chất ngân hàng.
Rủi ro tín dụng nói chung và rủi ro trong hoạt động cho vay nói riêng là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây tổn thất và ảnh hƣởng nghiêm trọng đến chất lƣợng kinh doanh ngân hàng. Rủi ro tín dụng là loại rủi ro đặc thù, luôn tiềm ẩn trong suốt quá trình trƣớc, trong và sau khi cho vay. Rủi ro tín dụng nếu không đƣợc phát hiện và xử lý kịp thời sẽ nảy sinh các rủi ro khác. - Tính bị động: trong quan hệ tín dụng, ngân hàng chuyển giao quyền sử dụng vốn cho khách hàng trong một thời gian nhất định nên những thiệt hại thất thoát về vốn xảy ra trƣớc hết là quá trình sử dụng vốn của khách hàng.
Biểu hiện rõ ràng nhất của đặc điểm này là trong thực tế thì ngân hàng thƣờng là ngƣời biết sau, đồng thời cũng không biết đƣợc đầy đủ, chính xác những khó khăn hay thất thoát trong hoạt động kinh doanh của khách hàng và trong việc sử dụng vốn vay, khiến ngân hàng thƣờng bị chậm trễ trong việc ứng phó. Xuất phát từ đặc điểm này, biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng là cần thiết lập một hệ thống thông tin theo dõi dấu hiệu rủi ro, xây dựng và đảm bảo mối quan hệ minh bạch giữa nhân viên tín dụng và khách hàng vay vốn. - Tính đa dạng và sự phức tạp: thể hiện ở sự đa dạng, phức tạp về khách hàng vay, đối tƣợng cho vay, loại hình tín dụng, nguyên nhân cũng nhƣ hậu quả rủi ro tín dụng. Nhận thức và vận dụng đặc điểm này, khi thực hiện phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng cần áp dụng đồng bộ nhiều biện pháp, không chủ quan đối với bất kỳ một rủi ro nào.
Phân loại rủi ro tín dụng a. Căn cứ theo nguyên nhân phát sinh: Rủi ro tín dụng đƣợc phân loại thành rủi ro giao dịch (transaction risk) và rủi ro danh mục (portfolio risk): - Rủi ro giao dịch: là rủi ro liên quan đến từng khoản vay đơn lẻ hoặc từng khách hàng cụ thể. Đây là rủi ro phát sinh liên quan đến quá trình thẩm định xét 7 duyệt cho vay, kiểm soát sau khi cho vay hoặc do sơ hở trong việc thực hiện bảo đảm tiền vay và những cam kết ràng buộc trong hợp đồng tín dụng, bao gồm: + Rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đến đánh giá và phân tích tín dụng để ra quyết định cho vay, nguyên nhân do thông tin không cân xứng tạo ra. + Rủi ro bảo đảm: phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm nhƣ các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, hình thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo.
+ Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề. - Rủi ro danh mục tín dụng: là rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, bao gồm: + Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay. + Rủi ro tập trung: là trƣờng hợp ngân hàng tập trung cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều khách hàng hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao.
Rủi ro tín dụng Rủi ro giao dịch Rủi ro danh mục Rủi ro Rủi ro Rủi ro Rủi ro Rủi ro lựa chọn bảo đảm nghiệp vụ nội tại tập trung Sơ đồ 1.1: Phân loại rủi ro tín dụng theo nguyên nhân phát sinh 8 b. Căn cứ vào mức độ tổn thất: - Rủi ro đọng vốn (do không hoàn trả nợ đúng hạn): xảy ra trong trƣờng hợp đến hạn trả nợ theo thỏa thuận mà ngân hàng vẫn chƣa thu hồi đƣợc vốn, dẫn đến các khoản vốn bị đóng băng (kém lỏng) và ảnh hƣởng đến ngân hàng trên hai phƣơng diện là kế hoạch sử dụng vốn và khó khăn trong quản lý thanh khoản. - Rủi ro mất vốn (do không có khả năng trả nợ): xảy ra trong trƣờng hợp khách hàng mất khả năng trả nợ gốc và/hoặc lãi, buộc ngân hàng phải thanh lý TSBĐ để thu nợ. Rủi ro mất vốn làm tăng chi phí nợ khó đòi và chi phí giám sát, đồng thời làm giảm lợi nhuận do các khoản dự phòng rủi ro tín dụng gia tăng.
Căn cứ nguyên nhân khách quan hay chủ quan: - Rủi ro khách quan: là rủi ro do các nguyên nhân khách quan nhƣ thiên tai, địch họa, ngƣời vay bị chết, mất tích và các biến cố bất khả kháng khác làm thất thoát tín dụng trong khi khách hàng và ngân hàng đã thực hiện đúng quy trình, chính sách tín dụng, cũng nhƣ những nội dung quy định trong hợp đồng tín dụng. - Rủi ro chủ quan: do nguyên nhân thuộc về chủ quan khách hàng và ngân hàng vì vô tình hay cố ý làm thất thoát vốn vay hay vì lý do chủ quan khác. Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng Phân loại các nguyên nhân gồm: nguyên nhân khách quan từ môi trƣờng bên ngoài, nguyên nhân từ phía khách hàng và nguyên nhân từ phía ngân hàng. Nguyên nhân khách quan từ môi trường bên ngoài: - Nguyên nhân bất khả kháng: Thiệt hại gây ra do thiên tai, bão lụt, hạn hán, động đất , thay đổi về nhu cầu của ngƣời tiêu dùng, lạc hậu khoa học kỹ thuật một ngành công nghiệp ảnh hƣởng hoạt động kinh doanh ngƣời đi vay, - Môi trƣờng kinh tế: Do sự biến động của kinh tế nhƣ suy thoái kinh tế, biến động tỷ giá, lạm phát; các chính sách của chính phủ nhƣ tiền lƣơng, đầu tƣ công, các hƣớng ƣu tiên đầu tƣ, miễn giảm thuế ảnh hƣởng tới tình hình hoạt động, kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó làm ảnh hƣớng khả năng trả nợ cho ngân hàng.
9 - Môi trƣờng pháp lý, chính trị, xã hội: Cùng với môi trƣờng kinh tế, môi trƣờng pháp lý tạo nên môi trƣờng cho vay của các NHTM. Một sự thay đổi chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, các quy định ngành liên quan cũng sẽ ảnh hƣởng hoạt động kinh doanh cả ngƣời đi vay và ngân hàng. Bên cạnh đó, nếu môi trƣờng pháp lý lỏng lẻo, thiếu đồng bộ, còn nhiều sơ hở dẫn tới không kiểm soát đƣợc các hiện tƣợng lừa đảo trong việc sử dụng vốn của khách hàng cũng sẽ tăng thêm rủi ro đối với hoạt động kinh doanh tín dụng của các NHTM. Sự biến động về chính trị - xã hội trong và ngoài nƣớc có thể gây khó khăn cho doanh nghiệp, ảnh hƣởng tới kết quả kinh doanh và khả năng trả nợ của ngƣời vay, dẫn tới rủi ro cho Ngân hàng.
- Môi trƣờng công nghệ: yếu tố công nghệ đã và đang tác động trực tiếp và to lớn đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, yếu tố này cũng luôn phát triển và biến động không ngừng. Nếu doanh nghiệp không nắm bắt đƣợc xu hƣớng phát triển và ứng dụng đƣợc công nghệ vào sản xuất kinh doanh sẽ ảnh hƣởng tới kết quả kinh doanh và khả năng trả nợ của mình. Nguyên nhân từ phía ngân hàng - Chính sách tín dụng của ngân hàng: bao gồm định hƣớng, chính sách khách hàng, danh mục hạn chế cho vay, các quy định về bảo đảm tiền vay Nếu các quy định này không chặt chẽ, hoặc không phù hợp, nếu ngân hàng đôi khi quá chú trọng về lợi nhuận, bỏ qua các quy định, quy trình sẽ dẫn đến rủi ro rín dụng cho ngân hàng. - Công nghệ ngân hàng: yếu tố công nghệ là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến sức cạnh tranh của ngân hàng trên thị trƣờng.