Chương 1: Lý luận chung về rủi ro tín dụng Chương 2: Thực trạng rủi ro tín dụng tại chi nhánh NHNo&PTNT huyện Vĩnh Tường. Chương 3: Một số giải pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng tại chi nhánh NHNo&PTNT huyện Vĩnh Tường. 8 Nguyễn Thị Kiều Trang 509 TCN Tài Chính - Ngân Hàng Với thời gian thực tập ngắn tại phòng tín dụng của ngân hàng, cùng sự hiểu biết và khả năng có hạn nên bài khóa luận của em còn nhiều thiếu xót, em mong thầy cô giáo góp ý để bài khóa luận của em được hoàn thiện hơn. Em xin cảm ơn sự giúp đỡ của cô giáo hướng dẫn Th.s Nguyễn Thị Lan Hương, ban giám đốc cùng các cô chú trong phòng tín dụng tại chi nhánh NHNo&PTNT huyện Vĩnh Tường, đã giúp em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp và có những bài học thực tế về các công việc tại ngân hàng.
Em xin chân thành cảm ơn ! 9 Nguyễn Thị Kiều Trang 509 TCN Tài Chính - Ngân Hàng CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ RỦI RO TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 1.1 Những vấn đề cơ bản về tín dụng 1. Khái niệm Tín dụng là giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay là ngân hàng và các dịnh chế tài chính khác với bên đi vay là cá nhân, doanh nghiệp…Trong đó quyền cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc lẫn lãi cho bên cho vay khi đén hạn thanh toán. Bên cạnh đó quan hệ tín dụng cũng cần được hiểu là quan hệ hai chiều, và ngân hàng vừa là người đi vay, vừa là người cho vay. Nghiệp vụ kinh doanh tín dụng là nghiệp vụ kinh doanh chủ chốt của NHTM để tạo ra lợi nhuận nhằm bù đắp những chi phí phát sinh trong hoạt động kinh doanh, trong đó có chi phí bù đăp rủi ro tín dụng, và các chi phí khác.2 Đặc điểm của tín dụng.
- Những hình thức trong quan hệ tín dụng ngân hàng bao gồm cho vay và cho thuê. Tài sản giao dịch trong cho vay là bằng tiền và tài sản trong cho thuê là bất động sản và động sản. Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, tiền vay được cấp trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện. - Lòng tin: Quan hệ tín dụng được hình thành trên cơ sở niềm tin rằng người đi vay sẽ hoàn trả đúng hạn.
- Về mặt pháp lý, những văn bản xác dịnh quan hệ tín dụng như hợp đồng tín dụng, khế ước…đó là những văn bản pháp lý nhằm ràng buộc những trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của hai bên cho vay và đi vay. - Tính hoàn trả: Người đi vay thông thường phải thanh toán phần lãi ngoài vốn gỗc, vì vậy người đi vay phải thanh toán nhiều hơn so với lúc đầu vay. - Tính thời hạn: Là khoảng thời gian mà người đi vay phải hoàn trả đúng hạn.3 Vai trò của tín dụng - Thứ nhất, tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn để duy trì quá trình tái sản xuất đồng thời góp phần đầu tư vào phát triển kinh tế. Nhu cầu vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh luôn là vấn đề quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp, bên cạnh đó quan hệ mua bán chịu luôn tồn tại trên thị trường, 10 Nguyễn Thị Kiều Trang 509 TCN Tài Chính - Ngân Hàng do đó với hoạt động tín dụng đã góp phần vào quá trình luân chuyển vốn trong nền kinh tế được diễn ra nhanh hơn, giúp cho người cần vốn có thể tìm được vốn nhanh hơn, hiệu quả hơn để có thể duy trì hoạt động sản xuẩt kinh doanh được liên tục và giúp cho người thừa vốn có thể bảo quản an toàn, đồng thời kinh doanh kiếm lời.
Trong nền sản xuất hàng hoá, tín dụng là một trong những nguồn hình thành vốn cho doanh nghiệp, đã góp phần động viên vật tư hàng hoá đi vào sản xuất, thúc đẩy ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật để đẩy nhanh quá trình tái sản xuất xã hội. - Thứ hai, tín dụng thúc đẩy quá trình tập trung vốn và tập trung sản xuất. Bản chất đặc trưng hoạt động ngân hàng là huy động vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi phân tán trong nền kinh tế, trong xã hội để thực hiện cho vay tới các đơn vị kinh tế co nhu cầu vốn phục vụ cho qua trình sản xuất kinh doanh. Đầu tư tập trung là yêu cầu tất yếu của nền kinh tế sản xuất hàng hoá, hạn chế sự lãng phí vốn, tiết kiệm mọi nguồn lực như thời gian, chi phí huy động vốn cho sản xuất… - Thứ ba, tín dụng thúc đẩy quá trình luân chuyển hàng hoá và luân chuyển tiền tệ.
Tín dụng đã tham gia trực tiếp vào quá trình luân chuyển hàng hoá và luân chuyển tiền tệ tạo điều kiện phát triển nền kinh tế, đặc biệt những ngành kinh tế trọng điểm trong mỗi giai đoạn phát triển kinh tế. Hoạt động tín dụng luôn chịu sự chi phối trực tiếp của chính sách phát triển kinh tế của Chính phủ, vì vậy đã góp phần vào việc đẩy nhanh qua trình lưu chuyển tiền tệ trong nên kinh tế thị trường, hạn chế thấp nhất sự ứ đọng vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh, đẩy nhanh vòng quay của vốn. -Thứ tư, tín dụng góp phần thúc đẩy chế độ hạch toán kinh tế Với sự tài trợ tín dụng của ngân hàng, mỗi doanh nghiệp phải thực hiện một chế độ hạch toán kinh tế và các định chế tài chính khác một cách minh bạch và hiệu quả hơn. Khi sử dụng vốn vay ngân hàng các doanh nghiệp phải tôn trọng các hợp đồng tín dụng, phải thực hiện thanh toán lãi và nợ vay đúng hạn, cũng như việc chấp hành các quy định ràng buộc trách nhiệm nghĩa vụ khác ghi trong hợp đồng như là về vấn đề tài chính… Vì vậy đòi hỏi các doanh nghiệp khi sử dụng vốn vay của ngân hàng phải quan tâm tới việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giảm chi phí sản xuất kinh doanh, tăng lợi nhuận của doanh nghiệp.
- Thứ năm, tín dụng tạo điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. 11 Nguyễn Thị Kiều Trang 509 TCN Tài Chính - Ngân Hàng Hiện nay, xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế của đát nước yêu cầu các doanh nghiệp phải mở rộng mối quan hệ kinh tế không chỉ trong phạm vi một quốc gia mà còn phả mơ rộng ra phạm vi khu vực và thế giới. Tín dụng đã trở thành cầu nối giữa nền kinh tế trong nước với thế giới và khu vực. Đối với nước ta, một nước đang trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá, tín dụng đóng vai trò rất quan trọng nhất là trong công tác xuất nhập khẩu, trong công cuộc quảng bá thương hiệu NGƯỜI VIỆT trên thế giới.
Tín dụng ngày nay là một công cụ để giúp đỡ các doanh nghiệp trong nước có đủ năng lực để tham gia vào thị trường thế giới như tài trợ việc mua bán chịu hàng hóa, mở rộng sản xuất , nâng cao chất lượng sản phẩm cho phù hợp với yêu cầu về quy mô và chất lượng của thị trường thế giới. - Thứ sáu, tín dụng là công cụ tài trợ vốn cho các ngành kinh tế kém phát triển và các ngành kinh tế trọng điểm. Với công cụ tín dụng, Chính phủ sẽ tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển bằng việc cho vay ưu đãi với lãi suất thấp, thời hạn dài, mức vốn lớn. Ngoài ra, Chính phủ còn tập tung vốn tín dụng vào việc phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn, để tạo động lực thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển theo.
Điều này được thể hiện rõ trong chính sách, chiến lược phát triển đất nước từng thời kỳ. - Thứ bảy, tín dụng góp phần điều chính cơ cấu kinh tế, chính sách kinh tế, hạn chế lạm phát. Ngân hàng tạo ra các nguồn vốn chủ yếu từ việc huy động các nguồn tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế thông qua chính sách lãi suất linh hoạt hấp dẫn, sau đó đầu tư vào nền kinh tế, vào các công trình trọng điểm trong chính sách phát triển đất nước mà Chính phủ đã đề ra. Bên cạnh đó vẫn đảm bảo đựơc không ảnh hưởng tiêu cực đến tình hình giá cả và lưu thông tiền tệ quốc gia.
Ngược lại, Nhà nước sử dụng biện pháp khác, ví dụ như phát hành tiền giấy để tạo nguồn vốn đầu tư vào nền kinh tế, sẽ gây ra sự mất cân đối trong lưu thông, trong quan hệ hàng hoá - tiền tệ, làm tăng lạm phát… Kết quả là ảnh hưởng tiêu cực tới quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.2 Rủi ro tín dụng và biện pháp quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng Bất cứ hoạt động kinh doanh nào trong nền kinh tế thị trường đều gặp rủi ro. Đặc biệt hoạt động kinh doanh của ngân hàng lại là một lĩnh vực kinh doanh nhạy cảm càng 12 Nguyễn Thị Kiều Trang 509 TCN Tài Chính - Ngân Hàng không tránh được những rủi ro. Hơn thế nữa, rủi ro luôn tiềm ẩn lớn gây ra những tổn thất xảy ra ngoài ý muốn và ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.1 Khái niệm rủi ro tín dụng - Rủi ro tín dụng (credit risk) là loại rủi ro phát sinh do khách hàng nợ không còn khả năng chi trả. Trong hoạt động của công ty, rủi ro tín dụng phát sinh khi công ty bán chịu hàng hóa thể hiện ở khả năng khách hàng mua chịu có thể thất bại trong việc trả nợ.
Trong hoạt động ngân hàng, rủi ro tín dụng xảy ra khi khách hàng vay nợ có thể mất khả năng trả nợ một khoản vay nào đó. Lưu ý rằng, trong hoạt động tín dụng, khi ngân hàng thực hiện nghiệp vụ cấp tín dụng thì đó mới chỉ là một giao dịch chưa hoàn thành. Giao dịch tín dụng chỉ được xem là hoàn thành khi nào ngân hàng thu hồi về được khoản tín dụng gồm cả gốc và lãi. - Rủi ro tín dụng rất nguy hiểm, khi một khách hàng quan trọng không trả nợ được nợ có thể gây nên những khoản lỗ lớn cho ngân hàng và có thể dẫn ngân hàng đến tình trạng mất khả năng thanh toán.
Trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại, rủi ro tín dụng ảnh hưởng rất lớn đến mọi hoạt động của Ngân hàng. Nếu món vay của Ngân hàng bị thất thoát, dân chúng sẽ thiếu lòng tin và tìm cách rút tiền khỏi Ngân hàng, từ đó ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của Ngân hàng thương mại.