CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VÊ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG ĐỐI TÁC 1. TỎNG QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG ĐÓI TÁC 1. Khái niệm rủi ro tín dụng đối tác Rủi ro tín dụng đối tác là một khái niệm còn khá mới mẻ đối với hệ thổng ngân hàng tại Việt Nam. Có khá nhiều tài liệu định nghĩa về rủi ro này.
Thông tư 41/2016/TT-NHNN do NHNN Việt Nam ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2020 về quy định tỷ lệ an toàn đối với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã nêu rõ định nghĩa về rủi ro tín dụng đối tác.Theo đó: Rủi ro tín dụng bao gôm: a) Rủi ro tín dụng là rủi ro do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ trả nợ theo họp đồng hoặc thỏa thuận với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, trừ các trường họp quy định tại rủi ro tín dụng đối tác; b) Rủi ro tín dụng đổi tác là rủi ro do đối tác không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ thanh toán trước hoặc khi đến hạn của các giao dịch sau: i) Giao dịch tự doanh; ii) Giao dịch repo và giao dịch reverse repo; iii) Giao dịch sản phẩm phái sinh để phòng ngừa rủi ro; iv) Giao dịch mua bán ngoại tệ, tài sản tài chính với mục đích phục vụ nhu cầu của khách hàng, đối tác và các giao dịch để đối ứng với các giao dịch này được ghi nhận vào sổ kinh doanh [6, tr. Theo thông lệ quốc tế và Hiệp ước vốn Basel II định nghĩa: Rủi ro tín dụng đối tác là rủi ro mà bên đổi tác đổi với một giao dịch có thể vỡ nợ trước ngày đến hạn thanh toán của giao dịch. Một sự tổn thất về mặt 9 kinh tế sẽ xảy ra nếu các giao dịch hoặc danh mục các giao dịch với đôi tác đó có giá trị kinh tế tích cực (những giao dịch ở trạng thái in-the-money) tại thời điểm vỡ nợ. Không giống như rủi ro của một công ty với rủi ro tín dụng thông qua một khoản vay, trong đó rủi ro tín dụng là đơn phương và chỉ có ngân hàng cho vay phải đối mặt với nguy cơ mất mát, rủi ro tín dụng đối tác tạo ra một nguy cơ thiệt hại song phương: giá trị thị trường của giao dịch có thê là tích cực hoặc tiêu cực đối với một trong hai bên đối với một giao dịch.
Giá trị thị trường không chắc chắn và có thể thay đổi theo thời gian với sự biến động của các yếu tố thị trường của tài sản cơ sở [13], [14]. Như vậy, có thể hiểu RRTDĐT là rủi ro khi kí kết một hợp đồng tài chính nhưng bên đổi tác thất bại trong việc hoàn thành nghĩa vụ của họ theo các điều khoản trong hợp đồng. RRTDĐT phát sinh từ 3 lĩnh vực chính của sản phẩm tài chính là: i) Các giao dịch phái sinh OTC như giao dịch hoán đổi lãi suất, giao dịch kỳ hạn ngoại tệ, giao dịch hoán đổi ngoại tệ.; ii) Giao dịch tài trợ chứng khoán như giao dịch mua bán có kỳ hạn GTCG, giao dịch vay và cho vay chứng khoán (Security Borrowing and Lending. Tuy nhiên, ủy ban Chứng khoán Quốc gia Việt Nam cấm giao dịch loại giao dịch này).
iii) Giao dịch cho vay margin (Margin Lending Transactions). Hiện nay, loại giao dịch này được áp dụng tại một số công ty chứng khoán của Việt Nam. Việc hiểu rõ RRTDĐT cần kiến thức của tất cả các rủi ro khác như rủi ro thị trường, rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động, rủi ro thanh khoản. Việc xem xét tương tác giữa các loại rủi ro tài chính khác nhau là yếu tổ rất quan trọng 10 trong việc định nghĩa bản chất của RRTDĐT.
Nhìn vào những sự kiện thị trường trong những năm qua, có thể thấy RRTDĐT rất phức tạp, cùng với những đặc điểm hệ thống và nguyên nhân tiềm ẩn, xúc tác hay phóng đại những bất ổn nghiêm trọng trong thị trường tài chính. Vì thế, việc hiểu, định lượng và quản lý RRTDĐT là rất quan trọng. Không có nó, trong tương lai, sự phát triển các sản phẩm phái sinh và thị trường tài chính sẽ bị cản trở. Phân biệt rủi ro tín dụng và rủi ro tín dụng đối tác Dựa vào những đặc điểm phân tích ở trên, có thể thấy sự khác biệt của RRTD và RRTDĐT.
Cụ thể: Tiêu chí Rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng đối tác Giá trị chịu Giá trị danh nghĩa chịu rủi ro Giá trị tương lai của hợp rủi ro tại một thời điểm bất kỳ trong đồng là không chắc chắn, suốt quá trình cho vay có thế phần lớn rất khó dự đoán. được tính toán với độ chắc chắn nhất định. Các bên chịu Chỉ một bên phải chịu rủi ro Vì giá trị thị trường của giao rủi ro khi cho vay (nguy cơ rủi ro tín dịch đối với mỗi bên có thế dụng là đơn phương và chỉ biến động âm hoặc dương, do ngân hàng cho vay đối diện đó cả hai bên đều phải chịu nguy cơ tổn thất). rủi ro tổn thất do rủi ro tín dụng đối tác.
Giao dịch Rủi ro tín dụng áp dụng với Rủi ro tín dụng đối tác có ở phát sinh rủi các khoản cho vay thông các sản phấm phái sinh OTC ro thường, tức là các giao dịch và giao dịch tài trợ chứng cấp tín dụng của ngân hàng. Đây thường là những sản phẩm/giao dịch của bộ phận Nguồn vốn. Chuyển giao Khoản tiền gổc ban đầu luôn Khoản tiền gốc ban đầu có vốn gốc luôn được trao đổi. thể trao đổi hoặc không cần trao đổi.
11 Đặc điểm khác biệt mấu chốt của rủi ro tín dụng đối tác so với rủi ro tín dụng là giá trị tương lai của hợp đồng cơ sở là không chắc chắn và khó dự đoán, cả về độ lớn và dấu. KHÁI NIỆM VÀ MỤC TIỂU QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG ĐỐI TÁC 1. Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng đối tác Quản trị RRTDĐT là một quá trình liên tục, được thực hiện bởi con người, hệ thống CNTT nhằm nhận diện, phát hiện, đo lường, đánh giá, giám sáư kiểm soát và báo cáo thường xuyên về các dấu hiệuRRTDĐT tiềm ẩn và hiện hữu trong hoạt động Ngân hàng. Ngày 10 tháng 08 năm 2017, đánh dấu sự ra đời của thị trường chứng khoán phái sinh Việt Nam với sản phẩm hợp đồng tương lai chỉ số cổ phiếu.
Đây được coi là dấu mốc quan trọng minh chứng cho việc thị trường tài chính trong nước ngày càng phát triển đa dạng và phức tạp. Hiện nay, giao dịch trên thị trường liên ngân hàng chủ yếu là các giao dịch kinh doanh tiền tệ và ngoại tệ truyền thống như giao dịch vay/cho vay, giao dịch gửi tiền/nhận tiền gửi, giao dịch mua bán ngoại tệ giao ngay, mua bán ngoại tệ phái sinh giữa các ngân hàng.Tuy nhiên, khi thị trường tài chính phát triển cùng với sự phát triển của các sản phẩm tài chính như các sản phấm chứng khoán phái sinh hay các giao dịch tài trợ chứng khoán có thể đem lại lợi nhuận lớn cho các ngân hàng nhưng cũng đi kèm với nó rủi ro không hề nhỏ bởi tính phức tạp và không chắc chắn, không thể lường trước được sự biến động giá của những sản phẩm tài chính này trong tương lai. Không những thế, nếu một trong những đối tác trên thị trường liên ngân hàng bị phá sản/ mất khả năng thanh toán, đối với danh mục các giao dịch còn hiệu lực, ngân hàng có thể chịu tổn thất không hề nhỏ bởi việc mất đi thu nhập từ việc định giá giá trị thị trường của giao dịch cũng như phải bỏ ra chi phí để tìm kiếm giao dịch thay thế. Do vậy, 12 việc quản trị RRTDĐT là rất cần thiết để ngân hàng có thể chủ động kiểm soát và tính toán được giá trị chịu rủi ro đối với RRTDĐT nhằm hạn chế thấp nhất những thiệt hại có thể có đối với ngân hàng.
Mục tiêu quản trị rủi ro tín dụng đối tác Quản trị RRTDĐT nhằm mục tiêu triển khai công tác quản lý RRTDĐT thống nhất, có hệ thống tại Ngân hàng, bao gồm: a) Nhận diện/Phát hiện, đo lường/đánh giá RRTDĐT trong các hoạt động có liên quan của Ngân hàng; b) Xác định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm và mô hình quản lý rủi ro trong công tác quản lý rủi ro toàn Ngân hàng; c) Xây dựng nguyên tắc quản lý rủi ro cơ bản ; d) Xây dựng quy trình, trình tự và các phương pháp quản lý rủi ro; e) Nhận diện các loại rủi ro và khẩu vị từng loại rủi ro.1: Quan điếm hiện đại về quản trị rủi ro tín dụng Theo mô tả trong sơ đồ 1.1, mục tiêu cuối cùng của các hoạt động ngân hàng là tạo ra giá trị (làm gia táng vốn cho cổ đông). Để làm được điều đó, NHTM phải tạo ra lợi nhuận càng cao càng tốt. Tuy nhiên, song hành cùng với các mức lợi 13 nhuận là những rủi ro có tác động lảm giảm giá trị vốn. Trong thời kỳ trước, các ngân hàng chi chú trọng vào mức lợi nhuận ròng.
Chỉ tiêu này mang tính thụ động vì nó là hiệu của lợi nhuận trừ đi các tổn thất rủi ro thực tế xảy ra trong năm. Ngày nay, do sự phát triển của thống kê và yêu cầu mới của quản trị ngân hàng, mức lợi nhuận được điều chỉnh, không phải bằng mức tổn thất thực tế xảy ra, mà là mức tổn thất dự kiến hay kỳ vọng. Phương pháp này mang tính chủ động hơn, nó buộc các NHTM phải chuẩn bị vốn, trích lập dự phòng để bù đắp rủi ro dự kiến và điều này để đảm bảo cho ngân hàng hoạt động bền vững. Như vậy, theo quan điểm hiện đại được áp dụng phổ biến, quản trị rủi ro tín dụng nói chung và quản trị RRTDĐT nói riêng nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận được điều chỉnh theo rủi ro bằng cách duy trì mức độ rủi ro trong phạm vi chấp nhận được, hay nói cách khác, mức độ rủi ro được duy trì ở mức mà các ngân hàng cho là hợp lý, được kiểm soát và tổn thất tín dụng nằm trong phạm vi nguồn lực tài chính cho phép của họ.
Quản trị RRTDĐT hiệu quả là điều kiện đủ để quản trị rủi ro tổng thể của NHTM và được xem là yếu tố đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển bền vững của các NHTM trong dài hạn. NỘI DUNG CỦA QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG ĐỐI TÁC 1.