CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm về cho vay khách hàng cá nhân Theo mục 1 – Điều 2 – Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 Quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng[9], cho vay là “hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Khách hàng cá nhân: là các cá nhân có nhu cầu vốn phục vụ nhu cầu đời sống hay phục vụ hoạt động kinh doanh, hoạt động khác.
Cho vay khách hàng cá nhân là hình thức cấp tín dụng tập trung vào nhóm đối tượng khách hàng cá nhân. Cho vay phục vụ nhu cầu đời sống là việc tổ chức tín dụng cho vay đối với khách hàng là cá nhân để thanh toán các chi phí cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân đó, gia đình của cá nhân đó. Cho vay phục vụ hoạt động kinh doanh, hoạt động khác đối với khách hàng cá nhân là việc tổ chức tín dụng cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu vốn ngoài nhu cầu phục vụ đời sống, bao gồm nhu cầu vốn của cá nhân đó và nhu cầu vốn của hộ kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân. Nguyên tắc cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại - Nguyên tắc hoàn trả: khoản tín dụng phải được thanh toán đầy đủ nguyên gốc sau khi sử dụng để ngân hàng bảo toàn được vốn ở mức tối thiểu để có thể duy trì hoạt động.
- Nguyên tắc thời hạn: khoản tín dụng phải được hoàn trả đúng vào thời điểm đã được hai bên xác định cụ thể và được ghi nhận trong thỏa thuận vay vốn giữa khách hàng và ngân hàng. 9 - Nguyên tắc trả lãi: ngoài việc thanh toán đầy đủ, đúng hạn khoản gốc, khách hàng phải có trách nhiệm thanh toán khoản lãi tính bằng tỷ lệ % trên số tiền vay, được coi là giá mua quyền sử dụng vốn. - Nguyên tắc tài sản đảm bảo: để bảo vệ nguồn vốn của ngân hàng khi khách hàng vi phạm các điều kiện vay vốn hoặc khi khách hàng không còn khả năng thanh toán cho ngân hàng. - Nguyên tắc sử dụng vốn đúng mục đích: tất cả các khoản tín dụng phải được sử dụng đúng mục đích vay thể hiện trong hồ sơ vay vốn.
Đặc điểm cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại - Thời hạn vay vốn: Tùy thuộc vào từng mục đích vay vốn và hình thức cho vay mà các khoản vay của KHCN có thời hạn: ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Trong đó: + Đối với những khoản vay bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, thời gian cho vay phù hợp với chu kỳ sản xuất kinh doanh của cá nhân, hộ kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân; do đó thời hạn cho vay thường là ngắn hạn. + Đối với những khoản vay phục vụ nhu cầu tiêu dùng cá nhân, thời hạn cho vay thường là trung và dài hạn, tùy thuộc vào khả năng đáp ứng nguồn vốn của ngân hàng, khả năng trả nợ của khách hàng, đặc biệt đối với các khoản vay mua nhà, thời hạn cho vay có thể kéo dài tới 20 năm. - Quy mô và số lượng các khoản vay: Thông thường quy mô mỗi khoản vay của khách hàng cá nhân thường nhỏ hơn các khoản vay của doanh nghiệp.
Tuy vậy, ở các NHTM số lượng các khoản vay của KHCN thường lớn, đặc biệt các NHTM hoạt động theo định hướng là ngân hàng bán lẻ thí số lượng này là rất lớn. Do đó, tổng quy mô các khoản vay KHCN thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ của Ngân hàng. - Chi phí cho vay: Do các khoản vay KHCN thường có quy mô nhỏ, số lượng các khoản vay lại thường rất lớn nên các Ngân hàng phải bỏ ra nhiều chi phí (về nhân lực và vật lực) 10 trong việc phát triển khách hàng, thẩm định, xét duyệt và xử lý các khoản vay do đó chi phí tính trên mỗi đồng cho vay của KHCN thường lớn hơn cho vay KHDN. - Lãi suất cho vay: Lãi suất của các khoản vay KHCN thường lớn hơn các khoản vay khác của NHTM.
Nguyên nhân là do chi phí cho vay KHCN lớn, các khoản cho vay KHCN có mức rủi ro cao và KHCN thường kém nhạy cảm với lãi suất cho vay do KHCN thường chỉ quan tâm đến số tiền được vay, thời hạn vay và số tiền phải trả theo định kỳ mà không xem lãi suất là yếu tố quan trọng nhất trong quá trình vay vốn. Cả 3 nguyên nhân trên dẫn đến lãi suất cho vay KHCN thường cao hơn các khoản cho vay khác. Chẳng hạn, ở những nước có hoạt động cho vay KHCN phát triển như ở Mỹ, lãi suất cho vay KHCN có thể cao gấp 3-4 lần lãi suất cho vay doanh nghiệp. Ở Việt Nam, lãi suất cho vay KHCN thông thường cao hơn 1,2-1,5 lần cho vay khách hàng doanh nghiệp.
- Rủi ro tín dụng: Các khoản vay của KHCN thường có nhiều rủi ro nhất đối với ngân hàng. Sở dĩ như vậy là do tình hình tài chính của KHCN thường thay đổi nhanh chóng tùy theo tình trạng công việc và sức khỏe của họ. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các cá nhân hay hộ gia đình thường có trình độ quản lý yếu, thiếu kinh nghiệm, trình độ kỹ thuật và công nghệ lạc hậu, khả năng cạnh tranh trên thị trường còn hạn chế. Do đó, ngân hàng sẽ phải đối mặt với nhiều rủi ro khi người vay bị thất nghiệp, phá sản,…Mặt khác, việc thẩm định và quyết định cho vay KHCN cũng hay gặp khó khăn do vấn đề thông tin không đầy đủ, không rõ ràng, các thông tin cá nhân thường bị giấu kín, dẫn đến chất lượng thẩm định khách hàng không cao.
Điều này ảnh hưởng đến các quyết định cho vay của ngân hàng. Chính vì vậy, các khoản vay KHCN thường được quản lý chặt chẽ. Phân loại cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại - Phân loại theo mục đích Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay, các khoản vay KHCN được chia thành hai hình thức: 11 + Vay tiêu dùng: là các khoản vay đáp ứng nhu cầu chi tiêu của các cá nhân như: vay mua, xây dựng sửa chữa nhà; mua xe; mua sắm trang thiết bị; + Vay sản xuất kinh doanh: là các khoản vay phục vụ mục đích bổ sung vốn sản xuất kinh doanh, đầu tư của cá nhân, chủ hộ gia đình, doanh nghiệp tư nhân: bổ sung vốn lưu động; mua sắm máy móc trang thiết bị vật tư; đầu tư cở sở trang thiết bị; đầu tư kinh doanh chứng khoán. - Phân loại theo kỳ hạn Đối với hai hình thức cho vay trên, thời hạn cho vay có thể là ngắn hạn (dưới 12 tháng), trung hạn (từ 12 tháng đến 60 tháng) và dài hạn (trên 60 tháng).
- Phân loại theo phương thức Phương thức cho vay có thể là cho vay từng lần, cho vay trả góp, cho vay thấu chi, riêng đối với các nhu cầu vay bổ sung vốn lưu động thường xuyên trong sản xuất kinh doanh thì phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng được áp dụng khá phổ biến. + Cho vay từng lần: Là phương thức cho vay mà mỗi lần vay vốn thì khách hàng và ngân hàng làm các thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng với nhau. + Cho vay trả góp: Khi vay vốn, ngân hàng và khách hàng thỏa thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời gian cho vay. - Phân loại theo hạn mức + Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc mà ngân hàng thỏa thuận bằng văn bản chấp thuận việc khách hàng chi vượt số tiền tự có trên tài khoản của khách hàng phù hợp với các quy định của Chính phủ và NHNN Việt Nam về việc thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán.
+ Cho vay theo hạn mức tín dụng: Ngân hàng và khách hàng xác định, thỏa thuận một mức dư nợ vay tối đa duy trì trong một khoảng thời gian xác định. - Phân loại theo tài sản đảm bảo 12 Các biện pháp đảm bảo an toàn cho vay là yếu tố quan trọng trong việc xét duyệt cho vay của ngân hàng với khách hàng, hiện tại ngân hàng xem xét cho vay với khách hàng dựa trên hai hình thức: + Cho vay có tài sản đảm bảo: Là các khoản vay được đảm bảo bằng tài sản thuộc sở hữu của chính khách hàng vay vốn hoặc của người thứ ba. Tài sản đảm bảo có thể là số dư tài khoản tiền gửi, sổ tiết kiệm, bất động sản, hàng hóa, máy móc thiết bị,… + Cho vay không có tài sản đảm bảo (cho vay tín chấp): Là cho vay không có tài sản đảm bảo, ngân hàng cho vay dựa trên uy tín của khách hàng. Ngân hàng lựa chọn các khách hàng có uy tín và khả năng trả nợ tốt để cho vay theo hình thức này.
RỦI RO TÍN DỤNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm rủi ro tín dụng cá nhân Rủi ro trong hoạt động cho vay rất đa dạng. Đó có thể là rủi ro khi ngân hàng bị ứ đọng vốn, rủi ro thiếu vốn khả dụng do sự chênh lệch về tỷ trọng giữa đồng vốn cho vay và đồng vốn đi vay theo tiêu thức thời gian, rủi ro tín dụng khi các vật bảo đảm tín dụng không còn giá trị như khi đánh giá ban đầu trước khi cho vay hay rủi ro tín dụng khi ngân hàng không thu hồi được nợ. Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu này chỉ xem xét rủi ro tín dụng khi ngân hàng không thu hồi được nợ hay còn gọi là nợ quá hạn, nợ khó đòi đối với những khoản tín dụng cá nhân.
Rủi ro tín dụng cá nhân là một loại hình nằm trong nhóm rủi ro tài chính. Vậy rủi ro tín dụng cá nhân là gì? Mối quan hệ của rủi ro tín dụng này đối với các rủi ro khác như thế nào? Những lý giải sau đây sẽ làm rõ điều đó. Rủi ro tín dụng là khi cá nhân vay vốn không trả được nợ theo hợp đồng gắn liền với mỗi khoản tín dụng ngân hàng cấp cho họ.