CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tín dụng và rủi ro tín dụng tại các NHTM 1.1 Khái niệm “TD nói chung được định nghĩa là quan hệ kinh tế trong đó có sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức giá trị hoặc hiện vật) từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian nhất định thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu.” Theo Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng số 17/2017/QH14, “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. “Nếu xem xét trên góc độ hẹp hơn, tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa ngân hàng và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó, ngân hàng chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên cho vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán.”Như vậy, rõ ràng ở đây có thể thấy nếu xét trên đối tượng cấp TD là ngân hàng, thì bản chất của TD là việc ngân hàng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một lượng tài sản bằng tiền, bằng tài sản hay uy tín với nguyên tắc hoàn trả đầy đủ dưới các hình thức cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh và các dịch vụ tài chính khác. Căn cứ vào thời hạn cấp tín dụng 7 “Các ngân hàng thường xuyên sử dụng tiêu chí này nhất để phân loại tín dụng. Thời hạn cấp TD là khoảng thời gian được xác định từ lúc ngân hàng cấp quyền sử dụng tiền hoặc tài sản cho khách hàng tới thời điểm khách hàng phải hoàn trả toàn bộ phần vốn vay cũng như tiền lãi cho ngân hàng như cam kết trong hợp đồng tín dụng.
Theo tiêu thức này TD được chia thành 3 loại như sau:” “+ TD ngắn hạn: TD ngắn hạn là loại TD có thời hạn tối đa 01 (một) năm. Loại TD này thường được sử dụng cho mục đích cho vay bổ sung vốn lưu động thiếu hụt tạm thời của các doanh nghiệp và cho vay phục vụ nhu cầu tiêu dùng ngắn hạn của cá nhân và hộ gia đình. + TD trung dài hạn: TD trung dài hạn là loại TD có thời hạn từ 01 năm đến tối đa là 05 năm. Hình thức tin dụng trung hạn thường được sử dụng cho vay đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh.
+ TD dài hạn: TD dài hạn là loại TD có thời hạn trên 05 năm. Hình thức TD này thường sử dụng vốn vay vào mục địch chủ yếu đầu tư hình thành mới tài sản cố định với thời hạn thu hồi vốn dài. Căn cứ vào mục đích sử dụng + TD sản xuất và kinh doanh hàng hóa: Đây là loại TD cấp cho các doanh nghiệp hoặc các chủ thể kinh doanh khác để tiến hành sản xuất và kinh doanh hàng hóa. + TD tiêu dùng: Đây là một loại hình cho vay nhằm giải quyết những nhu cầu vốn phục vụ cho tiêu dùng của khách hàng là các hộ gia đình và cá nhân như: mua sắm nhà ở, ô tô, du lịch… c.
Căn cứ vào mức độ bảo đảm + TD có bảo đảm: Đây là loại hình TD được thực hiện bằng việc trước khi xem xét cho vay ngân hàng yêu cầu khách hàng phải có tài sản đảm bảo 8 hoặc có một người thứ ba đứng ra bảo lãnh cho khoản tín dụng. Thông thường những tài sản đảm bảo là bất động sản hoặc động sản như: giấy tờ có giá, trang thiết bị. Yêu cầu cơ bản của các tài sản này là dễ chuyển nhượng. “+ TD không bảo đảm: Khác với cho vay có bảo đảm, cho vay không có bảo đảm được dựa trên lòng tin và tình hình tài chính của người vay, lợi tức dự tính trong tương lai và tình hình trả nợ trước đây.
Ngân hàng thường áp dụng hình thức cấp TD này cho một số khách hàng quen thuộc, họ thường là các khách hàng thân thiết và vay chủ yếu tại ngân hàng. Căn cứ vào phương pháp hoàn trả “+ TD trả góp: Là những khoản cho vay đỏi hỏi việc hoàn trả theo định kỳ. Việc hoàn trả có thể là hàng tháng, hàng quý, nửa năm hoặc hàng năm. TD trả góp được thực hiện theo nguyên tắc trả dần trong suốt thời gian thực hiện hợp đồng.” + TD phi trả góp: Là những khoản cho vay trả một lần, nghĩa là hợp đồng yêu cầu hoàn trả toàn bộ một lần vào thời gian đáo hạn cuối cùng.
+ TD hoàn trả theo yêu cầu: Là loại TD mà người vay có thể trả bất cứ lúc nào khi có thu nhập. Căn cứ vào nguồn gốc tín dụng “+ TD trực tiếp: Là loại TD trong đó ngân hàng thực hiện việc cấp TD cho người vay và người vay trực tiếp thực hiện nghĩa vụ hoàn trả nợ vay cho ngân hàng + TD gián tiếp: Là loại hình TD ngân hàng thực hiện việc cấp TD cho khách hàng thông qua việc mua lại các khế ước, chứng từ nợ từ khách hàng. Đặc điểm khác biệt của loại TD này là TD thương mại xuất hiện trước TD ngân hàng. Căn cứ vào hình thái giá trị cấp tín dụng 9 “+ TD bằng tiền: Là hình thức TD mà ngân hàng trực tiếp cho khách hàng vay bằng tiền để đáp ứng những nhu cầu thiếu hụt về vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng.
+ TD bằng hiện vật (leasing): Là hình thức cho vay thực hiện qua việc ngân hàng mua tài sản để cung cấp cho khách hàng. TD bằng hiện vật bao gồm các hình thức: cho thuê tài chính, cho thuê hoạt động. Căn cứ vào quy mô khách hàng + TD đối với doanh nghiệp lớn: Chủ thể vay ở đây là các doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có quy mô hoạt động kinh doanh lớn, có khả năng cung cấp hàng hoá dịch vụ với số lượng lớn và ảnh hưởng chi phối nền kinh tế. + TD đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ: Các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong các lĩnh vực khác nhau có quy mô nhỏ lẻ, nhu cầu vốn không lớn.
Tiêu thức phân loại này có thể thay đổi trong quá trình phát triển kinh tế. + TD đối với các cá nhân và hộ gia đình: cá nhân, hộ gia đình có nhu cầu vay vốn để kinh doanh và tiêu dùng là chủ yếu.3 Các phương thức tín dụng Theo Luật các Tổ chức TD năm 2010, tổ chức TD mà ở đây cụ thể là ngân hàng có thể thỏa thuận với khách hàng việc áp dụng các phương thức TD sau: a. Cho vay Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Chiết khấu và tái chiết khấu 10 Chiết khấu: là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán.
Trong khi đó tái chiết khấu: là việc chiết khấu các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác đã được chiết khấu trước khi đến hạn thanh toán. Bảo lãnh ngân hàng Là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức TD cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức TD sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức TD theo thỏa thuận. Phát hành thẻ tín dụng e. Bao thanh toán Là hình thức cấp TD cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ.
Các hình thức cấp tín dụng khác sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận.2 Rủi ro tín dụng 1.1 Khái niệm Theo Hiệp ước vốn Basel II, “RRTD có thể đơn giản hiểu đó là khả năng bên vay hay đối tác của ngân hàng không thực hiện các nghĩa vụ theo các điều khoản đã thỏa thuận”. Rõ ràng từ hai khái niệm trên cho thấy RRTD luôn được ngầm hiểu là tác nhân mang lại các hậu quả tiêu cực cho ngân hàng và ngân hàng luôn phải xây dựng chính sách quản lý để hạn chế RRTD có thể xảy ra hoặc giải quyết tốt các hậu quả khi để xảy ra RRTD. 11 Để sát với thực tiễn Việt Nam, luận văn sử dụng định nghĩa rủi về RRTD theo Theo Thông tư 01/VBHN-NHNN ngày 31 tháng 3 năm 2014, “Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài,”trong đó định nghĩa:“RRTD trong hoạt động ngân hàng (sau đây gọi tắt là rủi ro) là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”.“Theo khái niệm này, RRTD không chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay mà còn bao gồm nhiều hoạt động TD khác của ngân hàng như: chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh, mở L/C, cam kết thanh toán và các hình thức tài trợ thương mại khác.2 Các thành tố cấu thành rủi ro tín dụng RRTD là loại rủi ro quan trọng nhất mà các ngân hàng cần chú ý. Theo nhà kinh tế học Bessis (2002), RRTD được cấu thành bởi các thành phần thể hiện ở Hình 1.