Chương I: Những vấn đề cơ bản về quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng Quản lý rủi ro tín dụng tại BIDV Quảng Nam. Chương 3: Giải pháp quản trị rủi ro tín dụng tại BIDV Quảng Nam. Tong quan tài liệu nghiên cứu Một trong những hoạt động mang lại thu nhập chính của Ngân hàng thương mại là hoạt động cho vay nên rủi ro tín dung là một nhân tố hết sức quan trọng, đòi hỏi các ngân hàng phải có khả năng phân tích, đánh giá và quản lý rủi ro hiệu quả; vì nếu Ngân hàng chấp nhận nhiều khoản vay có rủi ro tín dụng cao thì ngân hàng có khả năng rơi vào tín trạng thiếu vốn hay tính thanh khoản thấp.
Điều này có thể giảm hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng, thậm chí là phá sản. Vì vậy công tác quản trị rủi ro tín dụng là không thể thiếu trong hoạt động của bắt kỳ tổ chức tín dụng nào. Thực tế cho thấy nhiều nhà kinh tế, nhiều tác giả lựa chọn đề tài quản trị rủi ro tín dụng để nghiên cứu. Cụ thể một các quan điểm nghiên cứu sau: - Cao Thị Lan Hương, Luận văn thạc sỹ QTKD “Quản trị rủi ro tín dụng nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh trong Ngân hàng TMCP Hàng hải Việt Nam” (bảo vệ năm 2012) trong đó, tác giả đưa ra các mô hình, giải pháp như: Nâng cao trình độ cán bộ, khai thác có hiệu quả thông tin, quản trị thông tin, thắt chặt quy trình, kiểm tra, giám sát chặt chẽ hoạt động cho vay, xử lý nợ.
Chưa đưa ra được giải pháp cụ thé áp dụng đối với Ngân hàng. - Pham Van Khánh, Luận văn thạc sỹ QTKD “Nâng cao năng lực quản trị rủi ro cho vay doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam - Chỉ nhánh Hùng Vương” (bảo vệ năm 2012), tác giả đề cập đến các lĩnh kinh tế mũi nhọn của Thành phó Đà nẵng và tiềm năng phát triển trong thời gian đến, các giải pháp chung trong công tác quản lý rủi ro tín dụng theo ngành nghề. - Lê Nguyễn Phương Ngọc, luận văn thạc sỹ kinh tế “Quản lý rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Techcombank — Chỉ nhánh Hồ Chí Minh” (bảo vệ năm 2013), tác giả nêu lên một số giải pháp trong việc đổi mới trong quản lý và phát triển nhân lực, xây dựng các chiến lược nhất quán và dành riêng cho DNVVN, tăng cường mối quan hệ giữa các cơ quan hữu quan, một số giải pháp liên quan đến quá trình thẩm định. Tại BIDV Quảng Nam đến nay vẫn chưa có đề tài nghiên cứu về quản trị rủi ro tín dụng.
Thực tế, hầu hết những bài nghiên cứu đều nêu lên được tính cấp thiết của đề tài, làm rõ những lý luận về hoạt động tín dụng cũng như rủi ro tín dụng, phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh tín dụng tại ngân hàng, đề ra những giải pháp hay nhằm hạn chế rủi ro tín dụng. Mỗi tác giả với đề tài của mình đều có những phong cách riêng về nội dung, hình thức thể hiện cũng như định hướng đề tài hoàn toàn khác nhay tuỳ thuộc vào thời điểm nghiên cứu, hoàn cảnh kinh tế xã hội, đối tượng và mục đích nghiên cứu. Nhưng nếu xét về hoàn cảnh kinh tế cụ thể, các giải pháp mang tính chung, việc áp dụng vào thực tế cho Ngân hàng vì vậy mà thiếu khả thi. Vì vậy, mặc dù đề tài là khá phổ biến, nhưng tôi thực hiện nghiên cứu với các mục tiêu, định hướng riêng, cụ thể như sau: - Trong khoảng thời gian từ năm 2008 đến nay, tình hình kinh tế xã hội Việt Nam đây biến động, tình hình lạm phát tăng cao, suy thoái kinh tế toàn cầu; bên cạnh đó, những biến động mang tính chất đặc thù ngành nghề kinh doanh (như xây dựng, bất động sản, thuỷ điện.) đã tác động mạnh đến hoạt động tín dụng ngân hàng, tỉ trọng nợ xấu doanh nghiệp liên tục tăng, đặc biệt là xuất hiện nhiều khoản nợ xấu mới theo quy định về phân loại nợ mới của Ngân hàng nhà nước Việt Nam.
Khi thực hiện đề tài nghiên cứu này, tác giả tập trung xem xét, đánh giá ảnh hưởng của sự biến động này đến hoạt động cho vay doanh nghiệp tại BIDV Quảng Nam, tìm ra những nguyên nhân tác động đến khả năng trả nợ ngân hàng, đồng thời đưa ra những mô hình, giải pháp cụ thé nhằm ngăn ngừa, hạn chế những rủi ro có thể xảy ra. CHUONG 1 NHUNG VAN DE CO BAN VE QUAN TRI RUI RO TIN DUNG CUA NGAN HANG THUONG MAI 1. RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại 1.
Hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại Ngân hàng đóng một vai trò quan trọng trong việc khơi nguồn vốn đến những người vay tiền có các cơ hội đầu tư có khả năng sinh lời, đồng thời ngân hàng cũng giữ một vai trò quan trọng trong việc bảo đảm cho nền kinh tế vận động nhịp nhàng, hữu hiệu. Vì vậy, ngân hàng được coi như một động lực tiên quyết cho sự phát triển kinh tế, xã hội. Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh với mục tiêu của nó tối đa hóa giá trị tài sản của chủ sở hữu. Ngân hàng thương mại thực hiện những hoạt động cơ bản sau: Huy động vốn: Huy động vốn chủ sở hữu: Đây là loại vốn Ngân hàng có thể sử dụng lâu dài, hình thành nên trang thiết bị, văn phòng cho Ngân hàng.
Đông thời, trong trường hợp Ngân hàng lâm vào tình trạng khủng khoảng, vốn chủ sở hữu sẽ là cứu cánh tránh cho Ngân hàng không bị mắt khả năng thanh toán. Nhận tiền gửi: Khi một Ngân hàng bắt đầu hoạt động, nghiệp vụ đầu tiên là mở các tài khoản tiền gửi để giữ hộ và thanh toán hộ cho khách hàng, bằng cách đó Ngân hàng huy động tiền của các tô chức và dân cư. Vay nguồn vốn vay: Ngân hàng thương mại thường vay Ngân hàng Trung Ương (NHNN), vay các tổ chức tín dụng khác và vay trên thị trường vốn. Huy động nguôn vốn khác: Nguồn ủy thác của các tổ chức tín dụng, nguồn phát sinh trong quá trình thanh toán giữa các Ngân hàng.
Hoạt động sử dụng vốn: Việc sử dụng vốn chính là quá trình tạo nên các loại tài sản khác nhau của Ngân hàng, trong đó cho vay và đầu tư là hoạt động quan trọng nhất. Ngân quỹ: bao gồm tiền mặt trong két và tiền gửi tại các Ngân hàng khác. Tín dụng: Bản chất của hoạt động tín dụng là Ngân hàng nhường quyền sử dụng vốn cho một người khác trong một khoảng thời gian nhất định. Đầu tu: Hoạt động đầu tư không đem lại lợi nhuận trước mắt nhưng có tiềm năng lợi nhuận trong tương lai.
Danh mục đầu tư của Ngân hàng thương mại bao gồm: đầu tư vào trái phiếu chính phủ — cho vay đối với chính phủ; đầu tư vào các dự án sản xuất kinh doanh, dự án phát triển; liên doanh đẻ hình thành nên tập đoàn công nghiệp — ngân hàng. Hoạt động trung gian: các dịch vụ trung gian tài chính của Ngân hàng bao gồm: các dịch vụ chuyên tiền, dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt, dich vụ môi giới, tư vấn, ủy thác,. Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại a. Khái niệm, đặc điểm hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại * Khái niệm cho vay, cấp tín dụng Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một khoản thời gian nhất định theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Cũng theo luật Té chức tín dụng, “Cáp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khẩu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác ” * Dac diém Đối với khoản tín dụng cấp cho khách hàng, một trong các dịch vụ mà Ngân hàng cung ứng cho các khách hàng là trợ giúp đánh giá rủi ro và khả năng sinh lời tiềm tàng của chính giao dịch tài chính chuẩn bị thực hiện đó. Điều này một phần được thực hiện thông qua việc phân tích bốn yếu tố chủ chốt của một khoản tín dụng, đó là: mục đích, số tiền, thời hạn khoản vay, va tai san dam bao. Phân loại tin dung Ngân hàng thương mại Dựa trên nhiều tiêu thức chúng ta có thể phân loại tín dụng ngân hàng theo nhiều cách khác nhau. Tuỳ vào mục đích nghiên cứu và sử dụng của từng người mà chúng ta có thể phân loại theo một số tiêu thức sau: * Phân loại theo thời gian: + Cho vay ngắn hạn: là khoản cho vay có thời hạn đến 12 tháng.
Mục đích của loại hình cho vay này thường là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản lưu động, đáp ứng nhu cầu về vốn của khách hàng trong hoạt động kinh doanh của khách hàng trong thời gian ngắn hạn. + Cho vay trung hạn: là khoản cho vay có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến 60 tháng. Mục đích của loại cho vay này nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản có định hay được sử dụng để mua sắm các loại tài sản mà khách hàng cần trong kinh doanh. + Cho vay dài hạn: là khoản cho vay có thời hạn cho vay trên 60 tháng trở lên.
Mục đích của khoản vay này thường là nhằm tài trợ cho các dự án đầu tư, các nhu cầu vốn dài hạn khác, cụ thể ở đây là trên 60 tháng. * Phân loại theo tài sản đảm bảo: + Cho vay có bảo đảm bằng tài sản: Cho vay có bảo đảm bằng tài sản là loại cho vay mà nghĩa vụ trả nợ vay được bên vay bảo đảm thực hiện bằng những biện pháp bảo đảm như cầm có, thế chấp hoặc bảo lãnh. Trong trường hợp bên vay không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ, NHTM có quyền xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ theo thỏa thuận và phù hợp với quy định của pháp luật. + Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản: Đây là hình thức cho vay mà trong đó nghĩa vụ hoàn trả tiền vay không được bảo đảm bằng các tài sản thuộc quyền sở hữu của chính khách hàng vay hoặc của bên thứ ba.