Chương 1: Cơ sở lý thuyết về quản trị rủi ro thanh khoản trong hoạt động của ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro thanh khoản trong hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu. Chương 3: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro thanh khoản trong hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu.chau TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.chau CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về ngân hàng thƣơng mại 1.1 Khái niệm Ngân hàng thương mại là một trung gian tài chính đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo nền kinh tế hoạt động nhịp nhàng, hiệu quả. Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng giao dịch trực tiếp với các tổ chức kinh tế và cá nhân, bằng cách nhận tiền gửi, tiền tiết kiệm, sử dụng số vốn đó để cho vay, chiết khấu, cung cấp các phương tiện thanh toán và dịch vụ ngân hàng cho các đối tượng nêu trên.
Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng có số lượng lớn và rất phổ biến trong nền kinh tế thị trường. Sự có mặt của loại hình ngân hàng này trong hầu hết các hoạt động kinh tế xã hội có thể cho rằng ở đâu có một hệ thống ngân hàng thương mại phát triển, thì ở đó sẽ có sự phát triển với tốc độ cao của nền kinh tế. Theo Luật các tổ chức tín dụng do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khóa X, kỳ họp thứ hai thông qua vào ngày 12 tháng 12 năm 1997, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã” (Khoản 2 Điều 4).
Luật các tổ chức tín dụng còn xác định “Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng. Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân” (Khoản 1 Điều 4) và “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung 9 (LUAN.chau TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.chau ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây a/ Nhận tiền gửi. c/ Cung ứng dich vụ thanh toán qua tài khoản” (Khoản 12 Điều 4). Đạo luật ngân hàng của Cộng hòa Pháp khẳng định ngân hàng thương mại là những cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác hoặc dưới hình thức khác và sử dụng nguồn lực đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính.
Như vậy, ngân hàng thương mại là một định chế tài chính trung gian quan trọng trong nền kinh tế thị trường. Nhờ hệ thống định chế tài chính trung gian này mà các nguồn tiền nhàn rỗi nằm rải rác trong xã hội sẽ được huy động, tập trung lại, đồng thời số vốn đó được sử dụng để cấp tín dụng cho các tổ chức kinh tế và cá nhân với mục đích phát triển kinh tế xã hội.2 Chức năng của ngân hàng thương mại Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường và hệ thống ngân hàng phát triển, ngân hàng thương mại có ba chức năng cơ bản chức năng trung gian tín dụng, chức năng trung gian thanh toán và chức năng cung ứng dịch vụ ngân hàng. * Chức năng trung gian tín dụng: ngân hàng thương mại đóng vai trò trung gian trong việc tập trung, huy động các nguồn tiền tệ tạm thời, nhàn rỗi trong nền kinh tế, bao gồm tiền tiết kiệm của dân cư, vốn bằng tiền của các đơn vị, tổ chức kinh tế; biến nó thành nguồn vốn tín dụng để cho vay (cấp tín dụng), đáp ứng các nhu cầu vốn kinh doanh, vốn đầu tư cho các ngành kinh tế và nhu cầu vốn tiêu dùng của xã hội. * Chức năng trung gian thanh toán: ngân hàng thương mại đứng ra làm trung gian thanh toán để thực hiện các giao dịch giữa người mua với người bán, giưa các khách hàng với nhau nhằm hoàn tất các quan hệ kinh tế thương mại của các đối tượng nêu trên.chau TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.chau * Chức năng cung ứng dịch vụ ngân hàng: nhu cầu của khách hàng ngày càng đa dạng; do vậy, ngoài hai chức năng trên, ngân hàng thương mại còn thực hiện chức năng cung ứng dịch vụ ngân hàng.2 Quản trị rủi ro thanh khoản 1.1 Một số khái niệm * Khái niệm về thanh khoản và rủi ro thanh khoản: tính thanh khoản của ngân hàng thương mại được xem như khả năng tức thời (the short-run ability) để đáp ứng nhu cầu rút tiền gửi và giải ngân các khoản tín dụng đã cam kết.
Như vậy, rủi ro thanh khoản là loại rủi ro khi ngân hàng không có khả năng cung ứng đầy đủ lượng tiền mặt cho nhu cầu thanh khoản tức thời; hoặc cung ứng đủ nhưng chi phí cao. Nói cách khác, đây là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp ngân hàng thiếu khả năng chi trả do không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền mặt hoặc không thể vay mượn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán. RRTK không phải là rủi ro đơn lẻ (isolated risk) như rủi ro thị trường hay rủi ro tín dụng mà là loại rủi ro mang tính hệ quả (consequential risk) bởi lẽ ngoài các nguyên nhân mang tính đặc thù, RRTK còn có thể bắt nguồn và chuyển biến xấu dưới tác động của các rủi ro phi tài chính và rủi ro tài chính khác trong hoạt động của ngân hàng. * Cung và cầu về thanh khoản: khả năng đáp ứng và nhu cầu về sử sụng vốn khả dụng thể hiện ở cung thanh khoản (LS – Liquidity Supply) và cầu thanh khoản (LD – Liquidity Demand).
Thanh khoản của một ngân hàng có thể được xem xét bằng mô hình cung-cầu về thanh khoản. Cung về thanh khoản: cung thanh khoản là khả năng cung ứng tiền của một NHTM nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán của khách hàng, bao gồm việc giữ tài sản thanh khoản và khả năng huy động mới. Đó là các khoản vốn, các nguồn cung cấp làm tăng khả năng chi trả của ngân hàng, bao gồm: 11 (LUAN.chau TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.chau - Các khoản tiền gửi đang đến. - Doanh thu từ việc bán các dịch vụ phi tiền gửi.
- Thu hồi các khoản tín dụng đã cấp. - Bán các tài sản đang kinh doanh và sử dụng. - Vay mượn trên thị trường tiền tệ. Trong các nguồn cung thanh khoản trên, luồng tiền thu về từ huy động vốn tiền gửi chiếm khối lượng lớn và là nguồn cung thanh khoản mới chủ yếu của ngân hàng.
Cầu về thanh khoản: cầu về thanh khoản là nhu cầu vốn cho các mục đích hoạt động của ngân hàng, các khoản làm giảm quỹ của ngân hàng. Thông thường, trong lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng, những hoạt động tạo ra cầu về thanh khoản bao gồm: - Khách hàng rút tiền từ tài khoản. - Yêu cầu vay vốn từ những khách hàng có chất lượng tín dụng cao. - Thanh toán các khoản vay phi tiền gửi.
- Chi phí phát sinh khi kinh doanh các sản phẩm, dịch vụ. - Thanh toán tổ tức bằng tiền. Trong các nhu cầu thanh khoản mà ngân hàng phải đối mặt trên, lượng tiền cần để giải ngân cho các hợp đồng tín dụng chiếm số lượng lớn. * Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản Những nguyên nhân tiền đề: thanh khoản của một ngân hàng phải đối mặt với rủi ro có thể do các nguyên nhân cơ bản sau đây: Một là, sự không cân xứng về kỳ hạn giữa TSC và TSN, ngân hàng vay mượn quá nhiều các khoản tiền gửi ngắn hạn từ các cá nhân và định chế tài chính khác; sau đó chuyển hóa chúng thành những tài sản đầu tư dài hạn.
Cho nên, đã xảy ra tình trạng mất cân đối về kỳ hạn giữa nguồn vốn và sử dụng vốn, mà thường gặp là dòng tiền thu về từ tài sản đầu tư nhỏ hơn dòng tiền chi 12 (LUAN.chau TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.chau ra để trả các khoản tiền gửi đến hạn. Vậy nên, NHTM luôn phải đối mặt với tình trạng thâm hụt hoặc thặng dư thanh khoản. Hai là, sự thay đổi của lãi suất có thể tác động đến cả người gửi tiền và người vay vốn. Khi lãi suất giảm, một số người gửi tiền rút vốn khỏi ngân hàng để đầu tư vào nơi có tỷ suất sinh lợi cao hơn; còn những người đi vay tích cực tiếp cận các khoản tín dụng vì lãi suất đã thấp hơn trước như tìm cách trì hoãn việc hoàn trả các khoản nợ đã đáo hạn hoặc rút hết số đư hạn mức tín dụng với mức lãi suất đã thỏa thuận với NHTM có lãi suất thấp; tìm cách trả trước hạn hoặc trì hoãn việc rút vốn vay với mức lãi suất đã thỏa thuận với NHTM có lãi suất cao.
Như vậy, rốt cuộc lãi suất thay đổi sẽ ảnh hưởng trạng thái thanh khoản của ngân hàng. Hơn nữa, những xu hướng của sự thay đổi lãi suất còn ảnh hưởng đến giá trị thị trường của các tài sản mà ngân hàng có thể đem bán để tăng thêm nguồn cung thanh khoản và trực tiếp ảnh hưởng đến chi phí vay mượn trên thị trường tiền tệ. Ba là, do ngân hàng có chiến lược quản trị rủi ro thanh khoản không phù hợp và kém hiệu quả như các chứng khoán đang sở hữu có tính thanh khoản thấp, dự trữ của ngân hàng không đủ cho nhu cầu chi trả… Tính chất đặc biệt của ngành kinh doanh tiền tệ đòi hỏi NHTM phải luôn sẵn sàng đáp ứng cầu thanh khoản. Đối với lĩnh vực kinh doanh khác (không phải kinh doanh tiền tệ), các doanh nghiệp có thể dây dưa nợ với khách hàng, chậm thanh toán với đối tác, thậm chí chủ động chiếm dụng vốn của đối tác kinh doanh… Nhưng với NHTM kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ hết sức nhạy cảm, NHTM không thể làm như vậy.
Bất kỳ một sự trục trặc nào về thanh khoản đều có thể gây tâm lý lo lắng trong công chúng, và nếu NHTM không giải quyết ngay khó khăn này, khách hàng gửi tiền có thể đồng loạt kéo đến ngân hàng để rút tiền, trạng thái thanh khoản sẽ trở nên trầm trọng và NHTM có thể bị phá sản. Mặt khác, trên bảng cân đối kế toán của NHTM, bên TSN luôn có một tỷ lệ nhất 13 (LUAN.chau TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.