CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.Lý luận chung về rủi ro thanh khoản 1.Khái niệm về thanh khoản và rủi ro thanh khoản trong ngân hàng thương mại 1.Khái niệm về thanh khoản và trạng thái thanh khoản trong ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại là một trung gian tài chính đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo nền kinh tế hoạt động nhịp nhàng, hiệu quả. NHTM là loại hình NH giao dịch trực tiếp với các tổ chức kinh tế và cá nhân, bằng cách nhận tiền gửi, tiền tiết kiệm, rồi sử dụng số vốn đó để cho vay, chiết khấu, cung cấp các phương tiện thanh toán và dịch vụ NH cho đối tượng nêu trên. Trong bảng cân đối tài sản, các NH đã dùng các nguồn vốn ngắn hạn bên tài sản nợ để tài trợ cho các tài sản bên tài sản có nên NH thường gặp rủi ro trong kinh doanh: rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá, rủi ro tín dụng,. và có thể đe dọa đến khả năng thanh toán cuối cùng của NH, nhưng rủi ro thanh khoản chỉ là vấn đề thông thường xảy ra hàng ngày đối với hoạt động NH.
Chỉ trong trường hợp đặc biệt rủi ro thanh khoản mới đe dọa tới khả năng thanh toán cuối cùng của NH. Vì vậy vấn đề thanh khoản là vấn đề thường nhật, một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu và thường xuyên đối với các nhà quản lý NH. Dưới gốc độ tài sản: thanh khoản được hiểu là khả năng chuyển hoá thành tiền của tài sản. Một tài sản được coi là có tính thanh khoản cao nếu có 5 thời gian ngắn và chi phí thấp và ngược lại.
Theo Perter Rose, một tài sản có tính thanh khoản cao nếu nó thỏa mãn đồng thời đặc điểm: Có thị trường giao dịch để có thể chuyển hóa tài sản thanh tiền ngay và ngược lại; Có thị trường giao dịch để có thể chuyển hóa tài sản thành tiền ngay và ngược lại; Có giá cả tương đối ổn định, không bị ảnh hưởng bởi số lượng và thời gian giao dịch. Dưới gốc độ ngân hàng: Thanh khoản được hiểu là khả năng NH đáp ứng các yêu cầu về vốn khả dụng của mình hay được hiểu là khả năng của NH nhằm đáp ứng kịp thời các nghĩa vụ thanh tài chính khi đến hạn. Như vậy khi NH không đáp ứng kịp thời nghĩa vụ thanh toán hoặc phải chịu tổn thất, chi phí cao để đáp ứng các nghĩa vụ thanh toán này sẽ làm dẫn đến rủi ro thanh khoản. Rủi ro thanh khoản là rủi ro xảy ra khi cầu thanh khoản vượt quá khả năng cung ứng thanh khoản của NHTM.
Trên thực tiễn, thanh khoản là một nội dung quản trị đặc biệt phức tạp trong công tác quản trị NH, nơi mà các dòng tiền vào, ra phát sinh bất ngờ và liên tục hàng ngày, hàng giờ. Thanh khoản chịu ảnh hưởng bởi một số yếu tố sau đây: - Yếu tố thời gian: Là một yếu tố đặc biệt quan trọng đối với thanh khoản, rõ ràng là nếu có càng nhiều thời gian thì NH càng có nhiều cơ hội để lựa chọn các nguồn thanh khoản một cách tối ưu nhất. - Chi phí: Đây cũng là yếu tố quan trọng đối với quyết định thanh khoản. Để đáp ứng nhu cầu thanh khoản NH sẽ phải mất đi một số chi phí nhất định và dẫn đến giảm lợi nhuận.
Khả năng và yêu cầu về thanh khoản thể hiện trong cung thanh khoản và cầu thanh khoản. Xác định cầu thanh khoản Cầu thanh khoản là nhu cầu vốn cho các mục đích hoạt động của NH, các khoản làm giảm quỹ của NH. NH chủ yếu cầu thanh khoản phát sinh từ hai nguồn chính: KH rút tiền gửi, cấp tín dụng cho KH, hoàn trả các khoản đi vay, chi phí về nghiệp vụ và thuế, chi trả cổ tức bằng tiền. * Cầu thanh khoản phát sinh từ vốn - Đảm bảo dự trữ bắt buộc - Nhu cầu rút tiền gửi không kỳ hạn của KH - Nhu cầu rút tiền gửi có kỳ hạn đến hạn, rút tiền gửi trước hạn của KH Một trong những hoạt động quan trọng của NH là nhận tiền gửi của KH và đảm bảo những món tiền gửi này KH có thể rút khi đến hạn hoặc rút trước hạn nếu có nhu cầu mà không cần phải báo trước.
Đây là nhu cầu TK chính có tính thường xuyên, tức thời và vụ điều kiện nên NH luôn phải chuẩn bị đủ tiền để đáp ứng cho các nhu cầu rút tiền nói trên tại bất kỳ thời điểm nào. - Hoàn trả nợ vay NH Nhà nước, TCTD khác đến hạn. - Thanh toán các giấy tờ có giá đến hạn. Để huy động được vốn, các NH thường phát hành các giấy tờ có giá như chứng chỉ tiền gửi, tín phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu NH.
Đối với một số nước phát triển, giấy tờ có giá là rất phổ biến và được giao dịch trên thị trường tiền tệ, thị trường tài chính. Tuy nhiên, ở Việt Nam việc các NHTM phát hành các giấy tờ có giá để huy động vốn mới được một số NHTM lớn có uy tín thực hiện. * Cầu thanh khoản phát sinh từ tài sản - Nhu cầu tín dụng của KH 7 - Thanh toán các chi phí hoạt động, thực hiện các nghĩa vụ nộp thuế, thanh toán cổ tức và các nghĩa vụ tài chính khác. Nhu cầu thanh khoản cũng phát sinh khi phải thực hiện việc thanh toán các chi phí liên quan đến hoạt động như chi tiền lương, bảo hiểm xã hội, công tác phí, mua sắm tài sản, chi sử dụng dịch vụ của các NH, chi trả thuế các loại, chi trả cổ tức cho các loại cổ phiếu do NH phát hành và chi các nghĩa vụ tài chính khác.
* Cầu thanh khoản phát sinh từ khoản mục ngoại bảng - Hợp đồng repo đến hạn: hiện giao dịch repo đang trở nên ngày càng phổ biến và phát triển. - Cam kết mua kỳ hạn trong giao dịch kinh doanh ngoại tệ: cũng phát sinh nhu cầu thanh khoản đối với NH. Xác định cung thanh khoản Cung thanh khoản (còn gọi là luồng tiền vào): chính là khả năng cung ứng tiền của một NHTM nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán của KH. Đáp ứng được các nhu cầu thanh khoản của NH phức tạp không kém so với việc xác định các nhu cầu đó.
Các nguồn cung thanh khoản chủ yếu của NH bao gồm những nguồn sau: Cung thanh khoản phát sinh từ tài sản Nguồn cung này bao gồm các tài sản được hình thành từ số tiền đầu tư tạm thời với sự đảm bảo rằng khi cần thanh khoản thì những tài sản này sẽ đương nhiên đến hạn và được thanh toán, hoặc các tài sản này có thể bán được ngay khi chưa đến hạn mà không gây ra các tổn thất vật chất. 8 Cung thanh khoản phát sinh từ tài sản bao gồm: - Tiền mặt - Tiền gửi tại NHNN: là khoản mục mang tính lỏng không kém gì tiền mặt và toàn bộ số dư tiền gửi tại NHNN cũng được coi là cung thanh khoản tại thời điểm. - Tiền gửi tại các TCTD khác: Cung thanh khoản từ tiền gửi tại các tổ chức tài chính khác chỉ bao gồm những khoản tiền gửi không kỳ hạn hoặc có kỳ hạn còn lại ngắn hạn. - Các khoản cho vay các TCTD được hoàn trả.
- Các khoản cho vay các tổ chức kinh tế, cá nhân được hoàn trả. - Các khoản đầu tư vào chứng khoán đến hạn: chứng khoán NH nắm giữ hiện nay thường có độ an toàn cao như Trái phiếu Chính phủ, Tín phiếu kho bạc Nhà nước, Trái phiếu công trình. Do vậy tính thanh khoản cũng được đánh gái tương đối cao, ở mức khoảng 90-95%. - Ngoài ra còn một số tài sản khác đến hạn như các khoản phải thu, các khoản tạm ứng.
* Cung thanh khoản phát sinh từ vốn Việc sử dụng tiền vay hay các loại nợ khác để tài trợ cho nhu cầu thanh khoản luôn bị hạn chế bằng cách này hay cách khác. Các NH có thể bị hạn chế về khả năng tham gia một số thị trường, bị hạn chế về mức tiền cho vay do phải phụ thuộc vào lòng tin và ý chí chủ quan của chính thị trường tiền tệ. - Huy động tiền gửi từ các tổ chức kinh tế, cá nhân: Khả năng tăng cung thanh khoản từ 9 huy động tiền gửi của các tổ chức kinh tế, cá nhân là thanh khoản trong dài hạn và thể hiện ở chính sách, kế hoạch huy động của ngân hàng. - Phát hành giấy tờ có giá: Phát hành giấy tờ có giá cũng là biện pháp tăng thanh khoản trong dài hạn, tuy nhiên các đợt phát hành giấy tờ có giá thường phục vụ cho mục tiêu nhất định và trong thời hạn nhất định, lãi suất có thể cao hơn tiền gửi tiết kiệm nên tính động có thể cao hơn khoản mục trên.
Nguồn vốn từ phát hành giấy tờ có giá có thể được dùng để tài trợ cho các khoản cho vay, giúp các đơn vị này có thêm nguồn vốn để cho vay. - Vay cầm cố, vay chiết khấu NH Nhà nước: Nguồn tái cấp vốn từ NHNN được coi là phao cứu hộ cuối cùng hỗ trợ thanh khoản của NHTM. - Nhận tiền gửi Kho bạc Nhà nước, nhận tiền gửi, vay các TCTD khác: Việc nhận tiền gửi Kho bạc Nhà nước, nhận tiền gửi, vay các TCTD khác cũng là nguồn thanh khoản có chi phí thấp, quy mô lớn. * Cung thanh khoản phát triển từ khoản mục ngoại bảng Bên cạnh những nguồn cung thanh khoản truyền thống nêu trên, các NH còn sử dụng nhiều phương pháp và công cụ mới để tạo ra các nguồn cung thanh khoản.
Các sản phẩm phái sinh thông dụng hiện nay: - Hợp đồng repo (bán chứng khoán có kỳ hạn kèm cam kết mua lại): là phương pháp huy động vốn đang ngày càng trở nên phổ biến hiện nay, tạo ra nguồn cung thanh khoản nhanh chóng, chi phí hợp lý. Hợp đồng repo là thoả thuận bán tạm thời những tài sản với chất lượng và tính thanh khoản cao kèm theo cam kết sẽ mua lại những tài sản này tại một thời điểm xác định với một mức giá định trước. 10 - Thu từ bán kỳ hạn trong giao dịch kinh doanh ngoại tệ: mua bán có kỳ hạn các ngoại tệ cũng đang ngày càng phát triển vì ngoài tính chất là một sản phẩm kinh doanh, giao dịch này còn có tác dụng trong việc quản lý và kiểm soát rủi ro ngoại hối. Trạng thái thanh khoản.
* Trạng thái thanh khoản ròng của NH (NPL): là chênh lệch ròng giữa cung - cầu thanh khoản tại một thời điểm nhất định trong tương lai.