CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÁC NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về rủi ro tác nghiệp tại ngân hàng thương mại 1. Khái niệm và đặc điểm rủi ro tác nghiệp ❖ Khái niệm rủi ro tác nghiệp: Tín dụng là hoạt động mang lại lợi nhuận chính cho ngân hàng với tỷ lệ chiếm tới 80% tổng tài sản và tạo cơ sở để mở rộng được các hoạt động kinh doanh khác đem lại nhiều nguồn thu cho ngân hàng. Mà trong kinh doanh, lợi nhuận cao sẽ đi kèm rủi ro.
Do đó, rủi ro tác nghiệp là một tác nhân chính gây ra thiệt hại và những ảnh hưởng tiêu cực đối với hoạt động của ngân hàng. Rủi ro tác nghiêp được định nghĩa như sau: Theo Basel II: “Rủi ro tác nghiệp là nguy cơ tổn thất trực tiếp hoặc gián tiếp do cán bộ ngân hàng, quá trình xử lý và hệ thống nội bộ không đầy đủ hoặc không hoạt động hoặc do các sự kiện bên ngoài tác động vào hoạt động ngân hàng. Khái niệm rủi ro tác nghiệp bao gồm cả rủi ro pháp lý nhưng không bao gồm rủi ro chiến lược và rủi ro uy tín”. Rủi ro tác nghiệp có thể phát sinh do yếu tố con người, chẳng hạn như gian lận của nhân viên ngân hàng, lỗi cẩu thả, sự yếu kém trong hệ thống công nghệ thông tin do lỗi hệ thống, sự thiếu chặt chẽ trong quy trình nghiệp vụ hoặc các lý do khác dẫn đến sai sót ở một ngân hàng mà không thể phân loại vào các rủi ro khác.
❖ Đặc điểm rủi ro tác nghiệp: Để phòng ngừa rủi ro tác nghiệp có hiệu quả, cần phải xác định những đặc điểm cơ bản của rủi ro tác nghiệp như sau: - Rủi ro tác nghiệp mang tính gián tiếp phát sinh do yếu tố bên ngoài Ngân hàng. - Rủi ro tác nghiệp có tính chất đa dạng và phức tạp biểu hiện ở nguyên nhân phát sinh, hình thức và hậu quả rủi ro. - Rủi ro tác nghiệp có tính tất yếu, do ngân hàng không thể nắm bắt được các dấu hiệu rủi ro một cách chi tiết và đầy đủ bởi những hạn chế trong 5 việc kiểm soát thông tin, điều này khiến bất kì công tác nghiệp vụ nào cũng tồn tại rủi ro luôn tiềm ẩn đối với ngân hàng. Phân loại rủi ro tác nghiệp Căn cứ theo tính khách quan, chủ quan của nguyên nhân gây ra rủi ro, bao gồm 2 loại rủi ro như sau: Rủi ro khách quan: là rủi ro do các nguyên nhân bên ngoài gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Rủi ro chủ quan: là rủi ro mà nguyên nhân thuộc về cá nhận hoặc quy trình nội bộ ngân hàng vô tình hay cố ý gây ra thiệt hại cho ngân hàng hay vì những lý do chủ quan khác. Nguyên nhân và hậu quả rủi ro tác nghiệp 1. Nguyên nhân gây ra rủi ro tác nghiệp Rủi ro tác nghiệp phát sinh từ các nguyên nhân sau: Nguyên nhân đến từ con người: - Các cán bộ tín dụng chưa thực hiện đúng các quy trình cho vay như: tin tưởng, nể khách hàng nên không đánh giá kỹ khách hàng, cho vay khống, thiếu tài sản đảm bảo, cho vay vượt hạn mức cho phép, công tác kiểm tra, giám sau vay không được thực hiện đầy đủ theo quy định. - Năng lực chuyên môn của cán bộ Ngân hàng còn nhiều yếu kém, chưa được đào tạo đầy đủ và bài bản về công tác phòng ngừa rủi ro.
- Cán bộ Ngân hàng vì tư lợi cá nhân mà vi phạm đạo đức kinh doanh bằng việc giúp đỡ khách hàng làm giả giấy tờ, bỏ qua bước thẩm định, nhận TSĐB không đúng quy định để hồ sơ được duyệt và chiếm dụng vốn vay của ngân hàng. Nguyên nhân đến từ quy trình & hệ thống nội bộ: - Ngân hàng xây dựng chính sách tín dụng và quy định về cho vay còn quá lỏng lẻo, không phù hợp với thị trường, tạo cơ hội cho khách hàng chiếm dụng vốn. 6 - Rủi ro do những hạn chế trong quá trình giao dịch và phê duyệt khoản vay, đánh giá khách hàng, liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề. - Quy trình quản lý không đầy đủ, còn nhiều sơ hở hoặc không còn phù hợp.
Hoạt động kiểm tra, giám sát nội bộ ngân hàng chưa được chú trọng, hầu như chỉ tồn tại dưới dạng hình thức. Nguyên nhân đến từ bên ngoài: là rủi ro do những sự kiện hoặc yếu tố bên ngoài xảy ra gây tác động xấu lên hoạt động kinh doanh nằm ngoài khả năng kiểm soát lập tức của Ngân hàng. - Trong đó có nguyên nhân từ phía khách hàng do năng lực kinh doanh và năng lực quản trị của khách hàng còn yếu kém, sử dụng nguồn vốn không hiệu quả, khách hàng cố tình sử dụng vốn vay sai mục đích, đầu tư vào các kênh có rủi ro cao dẫn đến mất vốn, khách hàng chủ động làm giả hồ sơ, không trung thực trong việc cung cấp thông tin nhằm chiếm dụng vốn vay của ngân hàng. - Các nguyên nhân khách quan khác như các yếu tố bất ổn định về tình hình chính trị - xã hội trong và ngoài nước đi kèm hệ lụy là sự biến động của nền kinh tế cũng gây ảnh hưởng lớn đối với khả năng trả nợ của khách hàng.
Do môi trường pháp lý phức tạp, chưa hoàn thiện và còn nhiều lỗ hổng cũng như sự thay đổi đột ngột về chính sách của Nhà nước liên quan đến tỷ giá, lãi suất., dẫn tới không thể ngăn chặn kịp thời hay có cảnh báo sớm về các hành vi gian dối, trục lợi trong quá trình vay vốn của khách hàng. - Các vấn đề về thiên tai hay những thay đổi bất thường về thời tiết cũng có thể gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế - xã hội, dẫn đến nguy cơ thiệt hại cao nếu không có phản ứng nhanh. Hậu quả của rủi ro tác nghiệp Rủi ro tác nghiệp có thể dẫn đến những hậu quả đối với các hoạt động nghiệp vụ, cụ thể: - Đối với hoạt động marketing và bán hàng: Rủi ro tác nghiệp có thể khiến ngân hàng rơi vào tình trạng, khi cung cấp các sản phẩm mới do không áp dụng đúng các thủ tục phê duyệt sản phẩm mới. - Đối với hoạt động thanh toán: Hậu quả mà ngân hàng phải gánh chịu có thể là không thanh toán được theo yêu cầu của khách hàng hoặc thanh toán nhầm đối tượng thụ hưởng.
- Đối với lĩnh vực công nghệ thông tin: Hậu quả mà ngân hàng phải gánh chịu có thể là tình trạng mất kiểm soát hệ thống hoặc hệ thống cơ sở dữ liệu ngừng hoạt động. - Đối với hoạt động tài chính: Hậu quả của rủi ro tác nghiệp có thể là việc định giá tài sản sai, các báo cáo lãi lỗ không hoàn chỉnh, các khoản mục kế toán không được đối chiếu. - Đối với hoạt động quản lý nhân sự: Hậu quả của rủi ro tác nghiệp có thể là hành vi vi phạm pháp luật trong vấn đề kết thúc hợp đồng lao động… - Đối với uy tín của ngân hàng: Đối xử với khách hàng không tốt dẫn tới mất khách hàng hoặc khách hàng nhận thức không tốt về ngân hàng, từ đó dẫn đến hậu quả làm mất vốn hoặc làm giảm lợi nhuận của ngân hàng… 1. Quản trị rủi ro tác nghiệp tại ngân hàng thương mại 1.
Quản trị rủi ro tác nghiệp tại các ngân hàng thương mại hiện nay Quản lý của Ngân hàng Nhà nước đối với hoạt động rủi ro của ngân hàng thương mại là sự tác động của định hướng, có mục đích, có kế hoạch của NHNN đối với các rủi ro của ngân hàng nhằm kiểm soát và kịp thời đưa ra chính sách can thiệp để có thể giúp các chi nhánh ngân hàng hoạt động ổn định, an toàn trong kinh doanh. Quản lý của ngân hàng nhà nước đối với hoạt động rủi ro tác nghiệp của các ngân hàng thương mại bao gồm các nội dung sau: 8 Thứ nhất, xây dựng hệ thống các chính sách, phương pháp quản lý của ngân hàng thương mại đối với rủi ro tác nghiệp của các ngân hàng thương mại. Đầu năm 2020, ngân hàng nhà nước có Văn bản số 1126/NHNN-TTGSNH ngày 23/2/2020 (sau khi xảy ra vụ việc mất tiền gửi hàng trăm triệu đồng của khách hàng tại một ngân hàng thương mại cổ phần), trong đó đưa ra 7 yêu cầu đề nghị các ngân hàng thực hiện để đảm bảo an toàn giao dịch tiền gửi, tiền gửi tiết kiệm tại các tổ chức tín dụng, tập trung vào các nhóm giải pháp về công nghệ, quy định/quy trình, cơ cấu tổ chức, công tác cán bộ, truyền thông/thông tin tới khách hàng, tương tác với Ngân hàng nhà nước và các cơ quan chức năng khi phát sinh vụ việc sai phạm. Tại Thông tư số 13/2020/TT-NHNN ngày 18/05/2020 về hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, Ngân hàng nhà nước yêu cầu các ngân hàng thương mại phải nhận diện, đo lường, theo dõi và kiểm soát đầy đủ rủi ro hoạt động (bao gồm rủi ro gian lận) trong tất cả các sản phẩm, hoạt động kinh doanh, quy trình nghiệp vụ, hệ thống công nghệ thông tin và các hệ thống quản lý.
Như vậy, việc xây dựng chính sách, phương pháp quản lý thông qua các công cụ như luật, chế tài, định chế… đã làm cho công tác quản lý rủi ro tác nghiệp của Ngân hàng nhà nước với các ngân hàng thương mại trở nên khoa học chặt chẽ hơn, từ đó giúp giảm thiểu nguy cơ các tác động và biểu hiện của các loại RRTN. Thứ hai, tổ chức thực hiện quản lý của Ngân hàng nhà nước đối với rủi ro tác nghiệp của các ngân hàng thương mại. Về xác định rủi ro tác nghiệp: Có thể sắp xếp các dấu hiệu của rủi ro theo các nhóm sau: Nhóm các dấu hiệu liên quan đến mối quan hệ với ngân hàng; Nhóm các dấu hiệu liên quan đến phương pháp quản lý của khách hàng; Nhóm các dấu hiệu liên quan tới các ưu tiên trong kinh doanh; Nhóm các dấu hiệu thuộc vấn đề kỹ thuật thương mại. 9 Về đo lường rủi ro tác nghiệp: Đo lườnrủi ro tác nghiệp là việc xác định mức độ rủi ro của các loại rủi ro tác nghiệp.
Rủi ro tác nghiệp là loại rủi ro rất khó nhận biết, dẫn tới việc đo lường cũng rất khó khăn. Có 2 phương pháp đo lường thường được sử dụng là phương pháp định tính và phương pháp định lượng.