Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động quản trị rủi ro lãi suất của NHTM. Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Giang II. Chương 3: Các giải pháp tăng cường hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Giang II. 5 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Tổng quan về rủi ro lãi suất 1. Khái niệm về rủi ro lãi suất Trong nền kinh tế thị trƣờng, kinh doanh luôn đi kèm với rủi ro, hoạt động kinh doanh của các NTHM cũng không ngoại lệ. Mặt khác, hoạt động kinh doanh của các ngân hàng là loại hình kinh doanh đặc biệt, chính vì vậy nên nó chịu ảnh hƣởng của mọi biến động trong nền kinh tế - xã hội, điều đó có thể gây ảnh hƣởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng là những biến cố không mong đợi mà khi xảy ra sẽ gây ra sự tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành đƣợc một nghiệp vụ tài chính nhất định.
Trên thực tế, rủi ro có thể xuất hiện ở hầu hết các nghiệp vụ của ngân hàng nhƣ thanh toán, tín dụng, tiền gửi, đầu tƣ, ngoại tệ, … Trong số đó, rủi ro lãi suất là một trong những loại rủi ro chủ yếu trong kinh doanh ngân hàng. Một số quan điểm về rủi ro lãi suất nhƣ sau: Theo Thomas, 1997: “Rủi ro lãi suất là rủi ro khi thay đổi lãi suất thị trƣờng sẽ dẫn đến tài sản sinh lời giảm giá trị”. Theo Joel, 2015: “Rủi ro lãi suất là rủi ro của việc giảm thu nhập từ lãi ròng hoặc sự chênh lệch giữa chi phí lãi doanh thu và chi phí lãi vay do sự thay đổi của lãi suất”. Theo Ủy Ban Basel về giám sát ngân hàng, 2004: “Rủi ro lãi suất là rủi ro điều kiện tài chính của ngân hàng chịu những biến động bất lợi về lãi suất.
Chấp nhận rủi ro này là một phần trong hoạt động ngân hàng và có thể là một nguồn sinh lợi cũng nhƣ tạo ra giá trị cho cổ đông”. Trên cơ sở xem xét các quan điểm về rủi ro lãi suất nhƣ trên có thể thấy rằng rủi ro lãi suất là loại rủi ro xuất hiện khi có sự thay đổi của lãi suất thị trường hoặc những yếu tố có liên quan đến lãi suất dẫn đến nguy cơ biến động thu nhập và giá trị ròng của ngân hàng hay nói cách khác rủi ro lãi suất là những tổn thất tiềm tàng mà ngân hàng phải gánh chịu khi lãi suất thị trường biến động. Ngƣời ta có thể tiếp 6 cận với vấn đề rủi ro lãi suất từ hai giác độ: - Từ khía cạnh “giá trị sổ sách” (book value): rủi ro lãi suất đƣợc xem xét thông qua các ảnh hƣởng của nó đến khoản thu nhập đƣợc phản ánh trong sổ sách của ngân hàng. - Từ khía cạnh “giá trị thị trƣờng” (market value): rủi ro lãi suất đƣợc xem xét thông qua các ảnh hƣởng của nó đến giá trị thị trƣờng của một danh mục đầu tƣ, bao gồm các TSC, TSN và các công cụ tài chính ngoại bảng có liên quan đến lãi suất của ngân hàng.
Giá trị kinh tế của những tài sản này bằng với giá trị hiện tại của những dòng tiền trong tƣơng lai của chúng. Bằng việc định giá những thay đổi trong giá trị hiện tại của những hợp đồng xuất phát từ một sự thay đổi trong tỷ lệ lãi suất đã đƣợc tính đến, ngƣời ta có thể ƣớc lƣợng đƣợc sự thay đổi về giá trị kinh tế của ngân hàng. Ngƣợc lại với khía cạnh “giá trị sổ sách”, khía cạnh “giá trị thị trƣờng” tập trung vào những rủi ro bắt nguồn từ việc định giá lại hay sự không cân xứng về kỳ hạn các loại tài sản trong dài hạn. Trong nền kinh tế, lãi suất là yếu tố rất nhạy cảm đối với biến động của nền kinh tế; hơn nữa, nó là công cụ trong việc thực hiện chính sách tài chính tiền tệ của Chính phủ.
Vì vậy, rủi ro lãi suất là rủi ro xuất hiện thƣờng xuyên trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. Phân loại rủi ro lãi suất Rủi ro về thu nhập: là khả năng suy giảm thu nhập lãi ròng của ngân hàng khi lãi suất thị trƣờng biến động - Rủi ro định giá lại: là rủi ro phát sinh khi ngân hàng có sự chênh lệch về kỳ hạn giữa TSC và TSN đối với các khoản mục có lãi suất có định và chênh lệch về kỳ định giá lại đối với các khoản mục có lãi suất thả nổi. Gồm 2 loại sau: + Rủi ro do tái tài trợ TSN: xảy ra khi ngân hàng duy trì kỳ hạn TSC lớn hơn kỳ hạn TSN. Ngân hàng sẽ phải đối mặt với rủi ro lãi suất khi lãi suất thị trƣờng tăng.
Hoạt động tái tài trợ TSN xảy ra khi thời hạn sử dụng vốn lớn hơn thời hạn nguồn vốn tài trợ nó. Kỳ hạn tài sản có lớn hơn kỳ hạn tài sản nợ Giả sử ngân hàng huy động vốn với thời hạn 1 năm, lãi suất 7%/năm; lãi suất của khoản cho vay đƣợc ấn định là 10%/năm, kỳ hạn 2 năm. Lợi nhuận của ngân hàng trong năm thứ nhất sẽ là 3% (=10% - 7%). Nếu lãi suất thị trƣờng không thay đổi từ năm thứ nhất sang năm thứ hai thì ngân hàng sẽ duy trì đƣợc lợi nhuận ở mức 3%.
Tuy nhiên nếu lãi suất huy động tăng lên 8% ở năm thứ hai thì lợi nhuận của ngân hàng là 2% (=10% - 8%). Nhƣ vậy, có thể thấy, ngân hàng sẽ chịu rủi ro lãi suất khi ngân hàng duy trì kỳ hạn TSC lớn hơn kỳ hạn TSN trong khi lãi suất thị trƣờng tăng. + Rủi ro do tái đầu tƣ TSC: xảy ra khi ngân hàng duy trì kỳ hạn của TSN lớn hơn kỳ hạn của TSC. Ngân hàng sẽ phải đối mặt với rủi ro lãi suất khi lãi suất thị trƣờng giảm.
Hoạt động tái đầu tƣ TSC xảy ra khi thời hạn sử dụng vốn ngắn hơn thời hạn nguồn vốn huy động. Kỳ hạn tài sản nợ lớn hơn kỳ hạn tài sản có Giả sử ngân hàng huy động vốn với lãi suất 7%/năm, kỳ hạn 2 năm; lãi suất của cho vay là 9%/năm, thời hạn 1 năm. Lợi nhuận của ngân hàng trong năm thứ nhất sẽ là 2% (= 9% - 7%). Nếu 8 sang năm thứ hai, lãi suất cho vay giảm xuống 8%/năm thì lợi nhuận của ngân hàng là 1% (=8% - 7%).
Nhƣ vậy, trong trƣờng hợp này, lợi nhuận của ngân hàng giảm đi hay ngân hàng đã chịu rủi ro khi lãi suất thị trƣờng giảm. - Rủi ro cơ bản: là rủi ro phát sinh khi sự định giá lại không hoàn hảo hoặc giống nhau giữa những khoản mục khác nhau, nghĩa là xuất hiện sự khác nhau về mức độ thay đổi lãi suất thu đƣợc từ TSC và lãi suất phải trả cho TSN mặc dù những khoản mục này có cùng thời hạn định giá lại hay nói cách khác là xu hƣớng lãi suất cho vay và lãi suất huy động thay đổi khác nhau mặc dù các khoản mục TSC cùng thời hạn. Ví dụ, ngân hàng có khoản cho vay 1 năm đƣợc định giá lại hàng tháng theo lãi suất tín phiếu kho bạc 1 tháng, và một khoản huy động vốn đƣợc định giá lại theo lãi suất Libor hàng tháng để tài trợ cho khoản vay này. Nếu lãi suất Libor và lãi suất tín phiếu kho bạc nhà nƣớc có biến động tƣơng đồng với nhau thì ngân hàng không gặp rủi ro.
Nhƣng trên thực tế, các mức lãi suất có thể không biến động tƣơng đồng với nhau mà còn biến động ngƣợc chiều nhau hoặc chúng biến động cùng chiều nhƣng mức độ biến động khác nhau thì ngân hàng sẽ phải gánh chịu rủi ro. - Rủi ro lựa chọn: là rủi ro phát sinh khi khách hàng không tôn trọng cam kết về kỳ hạn ban đầu. Ví dụ: khi lãi suất thị trƣờng tăng lên, khách hàng có xu hƣớng rút trƣớc hạn các khoản TGCKH để gửi mới với lãi suất cao hơn hay khi lãi suất thị trƣờng giảm xuống, khách hàng có xu hƣớng trả nợ trƣớc hạn các khoản vay dài hạn để vay lại khoản vay mới với lãi suất thấp hơn. Rủi ro giảm giá trị tài sản: là khả năng giá trị ròng của ngân hàng bị suy giảm khi lãi suất thị trƣờng biến động.
Bao gồm: - Rủi ro kỳ hạn: là rủi ro giảm giá trị ròng của ngân hàng khi tồn tại sự không cân xứng về kỳ hạn của TSC và TSN. Giá trị thị trƣờng của TSC và TSN là dựa trên khái niệm về giá trị hiện tại của tiền tệ. Nếu lãi suất thị trƣờng tăng lên thì mức chiết khấu giá trị tài sản cũng tăng lên làm cho giá trị hiện tại của TSC và TSN giảm xuống và ngƣợc lại. + Kỳ hạn TSC nhỏ hơn kỳ hạn TSN: ngân hàng sẽ gặp rủi ro khi lãi suất thị 9 trƣờng giảm.
Cụ thể, khi lãi suất thị trƣờng giảm thì giá trị hiện tại của TSC và TSN đều tăng, nhƣng mức tăng của TSC nhỏ hơn mức tăng của TSN nên thu nhập của ngân hàng tăng chậm hơn chi phí ngân hàng phải bỏ ra dẫn đến giá trị ròng của ngân hàng giảm. + Kỳ hạn TSC lớn hơn kỳ hạn TSN: ngân hàng sẽ gặp rủi ro khi lãi suất thị trƣờng tăng. Cụ thể, khi lãi suất thị trƣờng tăng thì giá trị hiện tại của TSC và TSN đều giảm, nhƣng mức giảm của TSC lớn hơn mức giảm của TSN, khi đó, thu nhập của ngân hàng giảm nhiều hơn chi phí làm cho giá trị ròng của ngân hàng giảm xuống. - Rủi ro đường cong lãi suất: là rủi ro của ngân hàng trƣớc những thay đổi về độ dốc và hình dạng của đƣờng cong lãi suất.
Rủi ro này phát sinh khi những thay đổi không dự đoán trƣớc của đƣờng cong lãi suất có tác động làm giảm giá trị tài sản của ngân hàng do lãi suất của những thời hạn khác nhau thay đổi theo những mức độ khác nhau. Nguyên nhân rủi ro lãi suất 1. Sự biến động của lãi suất thị trường Lãi suất là giá cả của tín dụng, giá mà ngƣời cho vay đặt ra để đánh đổi quyền sử dụng vốn cho vay của họ. Quan hệ cung – cầu về tín dụng trên thị trƣờng thƣờng xuyên thay đổi, do đó, lãi suất thị trƣờng cũng thay đổi theo.