Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG KINH DOANH THẺ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về hoạt động kinh doanh thẻ của các NHTM 1. Sự ra đời và phát triển của thẻ ngân hàng Những hình thức sơ khai của thẻ xuất hiên lần đầu ở Mỹ vào những năm 1920 dưới cái tên tạm gọi là “đĩa mua hàng” (shooper’s plate). Người chủ sở hữu của loại “đĩa” này có thể mua hàng tại cửa hiệu phát hành ra chúng và hàng tháng họ phải hoàn trả tiền cho chủ cửa hàng vào một ngày cố định, thường là cuối tháng.
Thực chất ở đây chính là việc người chủ cửa hàng đã cấp tín dụng cho khách hàng bằng cách bán chịu, mua hàng trước và trả tiền sau. Năm 1950 chiếc thẻ nhựa DINNERS CLUB đầu tiên được phát hành, những người có thẻ này có thể ghi nợ khi ăn tại 27 nhà hàng tại thành phố New York và phải chịu một khoản lệ phí hàng năm là 5USD. Những tiện ích của chiếc thẻ ngay lập tức gây được sự chú ý và đã chinh phục một lượng đông đảo khách hàng do họ có thể mua hàng trước mà không cần phải trả tiền ngay. Còn đối với những nhà bán lẻ, tuy phải chịu mức chiết khấu là 5% nhưng doanh thu của họ tăng đáng kể do lượng khách hàng tiêu dùng tăng lên rất nhanh.
Tiếp nối thành công của thẻ DINNERS CLUB, hàng loạt các công ty thẻ như Trip Change, Golden Key, Esquire Club. Năm 1960, Bank of America cho ra đời sản phẩm thẻ đầu tiên của mình là BANKAMERICARD. Đến năm 1966, 14 ngân hàng hàng đầu của Mỹ thành lập Interbank, một tổ chức mới với chức năng là đầu mối trao đổi các thông tin về giao dịch thẻ. Ngay sau đó, vào năm 1967, 4 ngân hàng bang California đổi tên từ Bank Card Association thành Western State Bank Card Association và tổ chức này đã liên kết với Interbank cho ra đời thẻ MASTER CHARGE, loại thẻ này đã nhanh chóng trở thành một đối thủ cạnh tranh lớn của BANKAMERICARD.
Đến năm 1977, tổ chức BANKAMERICARD đổi tên thành VISA USD và sau đó là 6 TCTQT VISA. Năm 1979, tổ chức thẻ MASTER CHARGE đổi tên thành MasterCard. Hiện nay, 2 tổ chức này vẫn đang là 2 tổ chức thẻ lớn mạnh và phát triển nhất trên thế giới. Hình thức thanh toán thẻ nhanh chóng được ứng dụng rộng rãi ở các châu lục khác ngoài Mỹ, năm 1960 chiếc thẻ nhựa đầu tiên có mặt tại Nhật báo hiệu sự phát triển của thẻ ở Châu Á.
Chiếc thẻ nhựa đầu tiên do ngân hàng Barcaly Bank phát hành ở Anh năm 1966 cũng mở ra một thời kì sôi động cho hoạt động thanh toán thẻ tại Châu Âu. Khái niệm, đặc điểm cấu tạo và phân loại thẻ ngân hàng 1. Khái niệm về thẻ ngân hàng Thẻ ngân hàng là công cụ thanh toán không dùng tiền mặt do TCPHT phát hành cho khách hàng để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ hoặc rút tiền mặt trong phạm vi số dư của mình ở tài khoản tiền gửi tại TCPHT, hoặc trong hạn mức tín dụng được cấp theo hợp đồng đã ký kết giữa TCPHT và chủ thẻ. Theo quan điểm của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, khái niệm về thẻ được quy định tại Quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng ban hành theo Quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN ngày 15 tháng 05 năm 2007 như sau: “Thẻ ngân hàng là phương tiện do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản được các bên thỏa thuận” [15, tr.
Đặc điểm, cấu tạo của thẻ ngân hàng Kể từ khi ra đời cho đến nay, cấu tạo của thẻ đã có những thay đổi khá lớn nhằm tăng độ an toàn, bảo mật, tăng khả năng ghi nhớ thông tin và tăng tính tiện dụng cho khách hàng. Thẻ ngân hàng được làm bằng Plastic theo kích cỡ tiêu chuẩn quốc tế (85,60 mm x 53,98mm x 0,76mm) và bao gồm các yếu tố: - Mặt trước của thẻ gồm: + Biểu tượng và tên của TCPHT: đây là yếu tố bắt buộc đối với tất cả các loại thẻ nhằm phân biệt các TCPHT. 7 + Bộ nhớ điện tử (thường được gọi là “Chip”): được sử dụng đối với các loại thẻ thông minh, trong đó có chứa các dữ liệu liên quan tới chủ thẻ và giao dịch thẻ. + Số thẻ: được in dập nổi hoặc in chìm tùy từng loại thẻ và sẽ được in lại trên hóa đơn khi chủ thẻ đi mua hàng.
Tùy theo từng TCTQT/ TCPHT mà các thẻ có số chữ số khác nhau và cách cấu trúc theo nhóm cũng khác nhau. + Thời hạn hiệu lực của thẻ: là thời hạn mà thẻ được lưu hành. Hết thời hạn hiệu lực của thẻ, chủ thẻ có thể trả lại thẻ cho ngân hàng hoặc làm thủ tục gia hạn thẻ. + Họ tên chủ thẻ: là cá nhân hoặc tổ chức được TCPHT cấp thẻ để sử dụng + Thương hiệu của TCTQT (nếu là thẻ quốc tế) - Mặt sau của thẻ bao gồm: + Dải băng từ: là nơi lưu trữ các dữ liệu liên quan đến chủ thẻ đã được mã hóa theo những tiêu chuẩn nhất định.
+ Băng chữ ký mẫu của chủ thẻ: dùng để xác định chủ thẻ trong các giao dịch thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ tại các ĐVCNT + Mã số bảo mật thẻ: để xác định thẻ trong các giao dịch thương mại điện tử. Phân loại thẻ ngân hàng Sơ đồ 1. Phân loại thẻ ngân hàng 8 - Căn cứ theo đặc tính kỹ thuật của thẻ: thẻ in nổi, thẻ băng từ và thẻ thông minh: Thẻ in nổi (Embossed Card): Là loại thẻ mà trên bề mặt thẻ được khắc nổi các thông tin cần thiết. Ngày nay loại thẻ này ít được sử dụng vì công nghệ in quá thô sơ, dễ bị làm giả mà kết hợp với các công nghệ mới như thẻ từ, thẻ thông minh.
Thẻ băng từ (Magnetic stripe): là loại thẻ mà các thông tin của chủ thẻ vừa được dập nổi ở mặt trước của thẻ vừa được mã hoá trong băng từ ở mặt sau của thẻ. Các thông tin này phải đảm bảo chính xác và khớp với nhau. Nhược điểm của thẻ từ là số lượng các thông tin được mã hoá không nhiều và mang tính cố định nên không thể áp dụng kỹ thuật mã hoá an toàn và có thể bị ăn cắp thông tin bằng các thiết bị nối với máy vi tính. Thẻ thông minh (Smart card): Đây là thế hệ mới nhất của thẻ, có đặc tính bảo mật và an toàn rất cao, dựa trên kỹ thuật vi xử lý tin học, gắn vào thẻ một chip điện tử có cấu tạo như một máy tính hoàn hảo.
Chip điện tử độc lập với thẻ và được gắn trên bề mặt của thẻ. Thẻ thông minh gắn chip xử lý dữ liệu có khả năng vừa lưu trữ các thông tin về chủ thẻ, điểm thưởng tích luỹ đồng thời lưu trữ cả số liệu về những lần giao dịch của chủ thẻ tại ĐVCNT. - Căn cứ vào bản chất kinh tế của nguồn thanh toán, có thể chia thành thẻ tín dụng (Credit card), thẻ ghi nợ (Debit card) và thẻ trả trước (Prepaid card): Thẻ tín dụng (Credit card): là phương thức thanh toán không dùng tiền mặt cung cấp cho nguời sử dụng khả năng chi tiêu trước trả tiền sau. Theo đó, chủ thẻ được cấp một hạn mức tín dụng dựa trên uy tín và khả năng đảm bảo chi trả.
Chủ thẻ không phải trả lãi khi sử dụng trong hạn mức tín dụng được cấp (nếu chủ thẻ hoàn trả số tiền sử dụng đúng thời hạn) để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ tại những ĐVCNT này. Thẻ ghi nợ (debit card): cho phép khách hàng tiếp cận với số dư tài khoản của mình qua hệ thống kết nối trực tuyến để thanh toán hàng hoá dịch vụ tại các ĐVCNT hoặc thực hiện các giao dịch liên quan tới tài khoản tại các máy ATM. Mức chi tiêu của chủ thẻ phụ thuộc chủ yếu vào số dư trong tài khoản. 9 Thẻ ATM là hình thức phát triển đầu tiên của thẻ ghi nợ, cho phép khách hàng có thẻ tiếp cận trực tiếp tới tài khoản tại ngân hàng từ máy rút tiền tự động.
Chủ thẻ có thể thực hiện nhiều giao dịch khác nhau tại máy ATM bao gồm: rút tiền, chuyển khoản, xem số dư tài khoản, in sao kê, xem các thông tin quảng cáo…. Hệ thống ATM hiện đại còn cho phép chủ thẻ gửi tiền vào tài khoản của mình ngay tại các máy ATM, đổi séc qua máy rút tiền tự động, thực hiện nộp hồ sơ cho một khoản vay cũng như tự mình thực hiện nhiều dịch vụ ngân hàng khác. Thẻ trả trước (Prepaid card) Là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi giá trị tiền được nạp vào thẻ tương ứng với số tiền mà chủ thẻ đã trả trước cho TCPHT. Thẻ trả trước bao gồm: Thẻ trả trước xác định danh tính (thẻ trả trước định danh) và thẻ trả trước không xác định danh tính (thẻ trả trước vô danh).
- Căn cứ vào phạm vi sử dụng của thẻ, thẻ được chia thành thẻ nội địa và thẻ quốc tế. Thẻ nội địa là loại thẻ được giới hạn sử dụng trong phạm vi một quốc gia. Đồng tiền được sử dụng trong các giao dịch thanh toán hàng hóa, dịch vụ hay rút tiền mặt phải là đồng bản tệ của quốc gia đó. Loại thẻ này chỉ do một ngân hàng điều hành, từ việc tổ chức phát hành đến việc xử lý trung gian lẫn việc thanh toán, nên hoạt động của nó tương đối đơn giản.
Thẻ quốc tế là thẻ mang thương hiệu của các TCTQT do các ngân hàng, tổ chức tín dụng làm đại lý phát hành. Thẻ quốc tế có thể được sử dụng trên phạm vi trong nước và quốc tế, tại bất kỳ các ĐVCNT hoặc máy ATM có mang biểu tượng chấp nhận thanh toán thẻ đó. Để phát hành thẻ quốc tế, TCPHT phải đăng ký và được chấp nhận làm thành viên của TCTQT, tuân thủ chặt chẽ các quy định trong việc phát hành và thanh toán thẻ do TCTQT đó ban hành. - Căn cứ theo chủ thể phát hành thẻ Thẻ do ngân hàng phát hành: là loại thẻ giúp cho khách hàng sử dụng linh động tài khoản của mình tại ngân hàng, hoặc sử dụng một số tiền do ngân hàng cấp tín dụng, loại thẻ này hiện nay được sử dụng khá phổ biến, nó không chỉ lưu hành trong một số quốc gia mà còn có thể lưu hành trên toàn cầu (ví dụ như: thẻ VISA, MasterCard.