phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, nội dung cơ bản của luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về Quản Trị Quan Hệ Khách Hàng Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản trị quan hệ khách hàng tại Ngân Hàng TMCP An Bình – Chi nhánh Đà Nẵng. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quan hệ khách hàng tại Ngân Hàng TMCP An Bình – Chi nhánh Đà Nẵng. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Môi trƣờng kinh tế và các thị trƣờng đã và đang thay đổi trong một thời gian dài. Các nền kinh tế đang thay đổi từ định hƣớng sản phẩm sang định hƣớng dịch vụ.
Các phƣơng pháp tiếp thị chủ đạo, dựa trên các khái niệm của phối thức Marketing, sản phẩm và cách tiếp cận giao dịch để tiếp thị, đang có nhu cầu thay đổi. Các thị trƣờng đại chúng, bao gồm số lƣợng lớn khách hàng vô danh mua sản phẩm đƣợc tiêu chuẩn hóa, cách tiếp cận này cũng đang thay đổi. Những thay đổi của thị trƣờng dẫn đến thị trƣờng bị phân khúc mạnh mẽ hơn và cộng với đó là khách hàng ngày càng có nhiều hiểu biết hơn và đòi hỏi nhiều hơn, sự cạnh tranh tăng cao, khách hàng ngày càng giảm sự trung thành và thƣờng xuyên thay đổi nhu cầu hơn. Những thay đổi trong thị trƣờng và xã 6 hội hiện đại làm giảm hiệu quả và ứng dụng của phƣơng pháp tiếp thị đại chúng và đòi hỏi các tổ chức cần áp dụng một phƣơng pháp hoặc mô hình tiếp thị hiệu quả hơn.
Những thay đổi này cũng có liên quan trong lĩnh vực tài chính và ngân hàng bán lẻ, và đây là trọng tâm của luận văn này. Maketing quan hệ (Relationship Marketing - RM) đƣợc giới thiệu nhƣ là cách tiếp cận mới và mô hình mới trong việc tiếp thị để thay thế cách thức tiếp thị đại chúng phổ biến. Sự chú trọng các mối quan hệ dài hạn với khách hàng đã phát sinh từ sự phát triển mạnh mẽ của Marketing dịch vụ, các khách hàng có xu hƣớng cá biệt hóa chứ không phải mang tính đại trà nhƣ trƣớc. Khi đó việc xây dựng và quản trị mối quan hệ đƣợc xem là nền tảng của sự tồn tại và phát triển của tổ chức.
Grönroos đã định nghĩa RM nhƣ sau: “Marketing quan hệ là thiết lập, duy trì và gia tăng các mối quan hệ với khách hàng và những đối tác khác để thu lợi do vậy mỗi bên đều đạt được mục tiêu của mình”. Thay vì trao đổi riêng lẻ trên thị trƣờng thì việc triển khai RM giúp tạo ra, duy trì và phát triển mối quan hệ lâu dài hợp tác cùng có lợi. Trong RM, khái niệm cốt lõi là khách hàng và các mối quan hệ. Việc chuyển đổi cách tiếp cận và mô hình Marketing biểu thị một cách suy nghĩ mới và thay đổi tính chất cơ bản của Marketing.
Quá trình triển khai RM đƣợc gọi là quản trị quan hệ khách hàng (Customer Relationship Management - CRM). CRM đã đƣợc phát triển vào cuối những năm 1990 khi các tổ chức ngân hàng bắt đầu trở nên ngày càng cạnh tranh hơn. Việc tập trung vào CRM làm tăng khả năng của ngân hàng để hiểu đƣợc nhu cầu hiện tại của khách hàng một cách chính xác hơn và cũng giúp họ hiểu hành vi của khách hàng, nhƣ những gì họ đã làm trong quá khứ, và những gì họ định làm trong tƣơng lai. Việc triển khai CRM giúp các ngân hàng thiết kế chiến lƣợc dựa trên sở thích của từng khách hàng để đáp ứng nhu cầu của họ (Xu, et al.
7 CRM đƣợc coi là một lợi thế cạnh tranh bởi vì nó cho phép các ngân hàng tiếp tục khám phá và sử dụng những kiến thức đã có về khách hàng của mình và để thúc đẩy các mối quan hệ lâu dài, có lợi nhuận với họ. Bhaduri (2005) đã nói về những quan niệm sai lầm về CRM, bà lập luận rằng đối với một số ngân hàng: CRM bị hiểu nhầm nhƣ một chiến lƣợc bán hàng kỳ diệu, một sản phẩm phần mềm đắt tiền, và thậm chí là một phƣơng pháp thu thập dữ liệu mới. CRM là không có trong số này mà đó là một triết lý đơn giản, đặt khách hàng vào trung tâm của các quy trình kinh doanh, các hoạt động và văn hoá của ngân hàng nhằm nâng cao sự hài lòng của khách hàng về dịch vụ và từ đó tối đa hóa lợi nhuận cho các ngân hàng. Nhiều nghiên cứu thực tế đã chỉ ra các dự án "CRM" có tỷ lệ thất bại cao và vô hình chung đã vẽ nên bức tranh ảm đạm của quá trình triển khai CRM trong thực tế.
Lý do chính cho sự thất bại là quan niệm sai lầm và định nghĩa hẹp của CRM, bên cạnh việc thiếu một mô hình thực hiện CRM rõ ràng với các bƣớc và các hoạt động cần thiết để triển khai CRM thành công. Các định nghĩa CRM hiện nay không dựa trên RM và do đó vẫn dựa vào các mô hình Marketing giao dịch (nhấn mạnh đến việc sử dụng các công cụ Marketing – mix để đạt đƣợc các trao đổi có lợi) và hơn nữa là đề cao vai trò của công nghệ thông tin. Đây là cách tiếp cận hẹp của CRM, cho thấy CRM chỉ là một công cụ phần mềm hoặc công nghệ thu thập thông tin khách hàng. Tuy nhiên, hiện tại các tổ chức tín dụng đang triển khai mô hình CRM đƣợc định nghĩa rộng hơn với tên gọi là: The Broad CRM Implementation Model (BCI model) – mô hình triển khai quản trị quan hệ khách hàng mở rộng.
Trong đó, CRM đƣợc định nghĩa là: “Thu hút, duy trì và phát triển mối quan hệ học tập lẫn nhau, với khách hàng một cách có hệ thống và liên tục, nhƣ để tạo ra, xác định lợi ích tƣơng hỗ thông qua trao đổi và việc thực hiện cam kết (Grönroos (1990 )). 8 Đây là cách tiếp cận rộng của CRM dựa trên RM, tƣơng phản với cách tiếp cận hẹp của CRM dựa trên Marketing giao dịch. Các bƣớc và cách thực triển khai CRM trong mô hình BCI là chủ yếu dựa trên việc tạo ra các giá trị tƣơng hỗ và tổng hợp các yếu tố ảnh hƣởng đến việc tạo ra và duy trì mối quan hệ lâu dài với khách hàng. Các mối quan hệ lâu dài phải đƣợc xem là trọng tâm của CRM trong việc tạo ra giá trị tƣơng hỗ cho cả khách hàng và ngân hàng.
Trong đó: các giá trị cho các khách hàng đƣợc tạo ra thông qua việc tối ƣu hóa sự hài lòng của các nhu cầu khách hàng, giảm thiểu rủi ro, giảm chi phí giao dịch và làm giảm sự lựa chọn khi thiết lập một mối quan hệ. Các giá trị của tổ chức đƣợc tạo ra bằng cách sự gia tăng thời gian hoạt động và tăng lợi nhuận. Lợi nhuận đƣợc tăng lên bằng cách tập trung vào việc duy trì khách hàng, thiết lập các mối quan hệ và do đó làm tăng việc mua lại của khách hàng, lòng trung thành và tăng giá trị khách hàng trọn đời (Life time value). Hơn nữa, nó đƣợc tăng lên thông qua bán chéo sản phẩm, giảm chi phí liên lạc khách hàng, và truyền thông marketing hiệu quả hơn.
Dựa vào định nghĩa rộng của CRM, các lý thuyết và các mô hình có liên quan về việc thực hiện mô hình BCI đã đƣợc xác định. Mô hình BCI Trƣớc khi bắt đầu quá trình thực hiện, ngân hàng phải xây dựng những tiền đề cần thiết để triển khai CRM sao cho phù hợp với tƣ tƣởng RM. Bao gồm: Định hƣớng kinh doanh, cơ cấu tổ chức, văn hóa, hệ thống đo lƣờng kiểm tra, con ngƣời, và cơ sở hạ tầng, công nghệ. Tất cả các yếu tố này cần đƣợc thay đổi để phù hợp với định hƣớng CRM, góp phần hỗ trợ việc triển khai các bƣớc cụ thể sau này.
Sau đó là quá trình tạo ra giá trị tƣơng hỗ cho ngân hàng và khách hàng bao gồm các bƣớc triển khai cơ bản trong việc thực hiện CRM, qua đó thu 9 hút, duy trì và phát triển mối quan hệ với khách hàng. Quá trình trung tâm trong chuỗi giá trị tƣơng hỗ là việc tạo ra giá trị tƣơng hỗ (Mutual value creation - MVC). Đây là quá trình dựa trên mô hình IDIC (Peppers, Rogers và Dorf (1999)). Quá trình MVC là một quá trình tiến hành liên tục, nhƣ là việc tiến hành bƣớc tiếp theo là để củng cố bƣớc đã triển khai phía trƣớc.
Quá trình MVC cần phải đƣợc thực hiện để đảm bảo sự thành công cho CRM. Quá trình MVC gồm bốn bƣớc: tạo ra các kiến thức chuyên sâu của khách hàng, xác định và phân loại khách hàng mục tiêu, tƣơng tác, cộng tác với khách hàng và cung cấp sản phẩm chuyên biệt hóa (Total Individualised Service offering – TIS offering). 10 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔNG QUAN QUẢN TRỊ QUAN HỆ KHÁCH HÀNG 1. TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ QUAN HỆ KHÁCH HÀNG (CRM) 1.
Định nghĩa về quản trị quan hệ khách hàng CRM đã đƣợc định nghĩa hẹp nhƣ một hoạt động quản trị dữ liệu khách hàng. Bằng định nghĩa này, nó liên quan đến việc quản trị thông tin chi tiết về các khách hàng cá nhân và quản lý một cách cẩn thận các khách hàng “chủ chốt” nhằm tối đa hóa sự trung thành của khách hàng. Tuy nhiên, gần đây, CRM đã mang một ý nghĩa rộng hơn. Trong nghĩa rộng này, CRM là một tiến trình tổng quát của việc xây dựng và duy trì các mối quan hệ khách hàng có lợi bằng cách cung cấp những giá trị và sự thỏa mãn cao hơn cho khách hàng.
Do vậy, các doanh nghiệp ngày nay đi xa hơn trong việc xây dựng các chiến lƣợc nhằm thu hút những khách hàng mới và tạo ra những giao dịch với họ. Các doanh nghiệp sử dụng CRM để duy trì khách hàng hiện tại và xây dựng mối quan hệ có lợi và dài hạn với họ. Có thể thấy rằng trƣớc đó, CRM nhấn mạnh vai trò của công nghệ thông tin nhƣ là yếu tố quyết định chính cho CRM. Nhiều triết lý hiện tại đề cập đến CRM nhƣ là điều tiên quyết của chiến lƣợc kinh doanh với các quy trình kinh doanh thích hợp và công nghệ cho phép "có những cái nhìn sâu sắc hơn, khả năng tiếp cận khách hàng tốt hơn, tƣơng tác khách hàng hiệu quả hơn, và tích hợp xuyên suốt tất cả các kênh khách hàng và chức năng back – office của doanh nghiệp" (Buttle, 2009; Gartner, Inc.