Chương 1 1 TỔNG QUAN VỀ NỢ XẤU VÀ QUẢN TRỊ NỢ XẤU 2 TẠI CÁC NHTM 2.1 Khái quát chung về nợ xấu 2.1 Khái niệm về nợ xấu và cách xác định nợ xấu Trước khi bàn về khái niệm thế nào là nợ xấu, chúng ta cùng xem xét định nghĩa về “chất lượng tín dụng”. Tìm lại những giáo trình về nghiệp vụ ngân hàng, sẽ rất khó để tìm thấy một khái niệm hoàn chỉnh về 4 từ “chất lượng tín dụng” dù cho nó được sử dụng khá là nhiều và phổ biến. Tuy nhiên, có thể hiểu đơn giản như thế này, “chất lượng tín dụng là thuật ngữ dùng để chỉ khoản vay đáp ứng đồng thời các điều kiện sau: ngân hàng cho vay đúng đối tượng, khách hàng sử dụng vốn đúng mục đích và đã phát huy hiệu quả về mặt kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường; trên cơ sở đó khách hàng hoàn thành nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi đúng hạn đối với ngân hàng”.1 Khái niệm nợ xấu Thuật ngữ “nợ xấu” (NPL – Non-performing loans hay nợ khó đòi như Fofack 2005) được hiểu là các khoản nợ dưới chuẩn, bị nghi ngờ về khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn, thường xảy ra khi người vay nợ tuyên bố phá sản hoặc đã bán dần tài sản. Hiện nay, nhằm giúp cho mọi người hiểu rõ về vấn đề này, các tổ chức uy tín trên thế giới đã đưa ra những khái niệm của riêng mình về hai từ “nợ xấu”.
Theo định nghĩa nợ xấu của Phòng Thống Kê – Liên Hợp Quốc: “Về cơ bản một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/ hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ”. Theo một số tiêu chí của NHTW Liên minh châu Âu: “Nợ xấu trong hoạt động kinh doanh của NHTM không chỉ có những khoản vay quá hạn thông thường không có khả năng thu hồi theo hợp đồng mà còn có các khoản nợ chưa quá hạn nhưng tiềm ẩn các rủi ro dẫn đến việc có thể không thanh toán đầy đủ gốc và lãi cho Ngân hàng”. Với riêng hệ thống quy định Việt Nam, khái niệm nợ xấu được đưa ra lần đầu dựa trên Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005, sau đó được sửa 4 đổi bởi Quyết định 18/2008/QĐ-NHNN, trong đó quy định “Nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (dưới chuẩn), nhóm 4 (nghi ngờ) và nhóm 5 (có khả năng mất vốn)”. Và mới đây nhất, nhằm giúp cho các ngân hàng giám sát và quản trị nợ xấu một cách tốt hơn, NHNN Việt Nam đã cho ra đời thông tư 02/2013/TT- NHNN ngày 21/01/2013, thay thế cho Quyết định 493 trước đó với những thay đổi lớn và được đánh giá là tiệm cận gần hơn với Basel II trong việc phân loại nợ và trích lập DPRR.
Nhìn chung, tất cả các định nghĩa trên về nợ xấu thì một khoản vay được xác định là nợ xấu chỉ dựa trên hai yếu tố là khả năng trả nợ và thời gian từ lúc khoản nợ quá hạn đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ mà không xem xét đến việc khách hàng có sử dụng vốn đúng mục đích hay không, có bảo vệ môi trường hay không? Điều này cho thấy “nợ xấu” và “chất lượng tín dụng” không hoàn toàn trái nghĩa nhau. Một khoản vay có chất lượng tín dụng kém nhưng chưa chắc đã là nợ xấu nhưng một khoản nợ xấu chắc chắn có chất lượng tín dụng kém.2 Cách xác định nợ xấu Để xác định nợ xấu, các ngân hàng phải tiến hành phân loại nợ. Theo quỹ tiền tệ quốc tế IMF và Ngân hàng Thế giới WB thì các khoản vay nợ được chia làm 5 nhóm gồm: khoản vay đạt tiêu chuẩn, khoản vay cần theo dõi, khoản vay dưới tiêu chuẩn, khoản vay đáng ngờ và khoản vay mất vốn. Việc phân chia này dựa trên ba yếu tố: tài sản đảm bảo, những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ và thời gian quá hạn của khoản vay.
Trên cơ sở phân loại của IMF và WB, các nước trên thế giới (bao gồm cả Việt Nam) cũng đã tiến hành phân loại nợ của các NHTM theo 5 nhóm. Ngày 21/01/2013, NHNN Việt Nam ban hành thông tư 02/2013/TT-NHNN, trong đó NHNN phân loại nợ thành 5 nhóm theo hai phương pháp: phương pháp định lượng và phương pháp định tính. Tuy nhiên, trên thực tế, phần lớn các ngân hàng đang phân loại nợ dựa trên phương pháp định lượng mà không xem xét đến các chỉ tiêu định tính bởi lẽ phân loại nợ theo phương pháp này tương đối rõ ràng và có thể áp dụng thống nhất tại các NHTM khác nhau. Chỉ có rất ít ngân hàng thực hiện phân loại theo phương pháp định tính như BIDV, Vietcombank, Agribank dựa trên xếp hạng tín dụng nội bộ của mỗi NHTM được NHNN phê duyệt.
Theo quy định, nợ xấu là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5. Nợ xấu thuộc nhóm 3, 4 và 5 có khả năng thu hồi giảm dần và được ngân hàng trích lập một tỷ lệ DPRR cho khoản nợ xấu với tỷ lệ tương ứng là 20%, 50% và 100% trên tổng 5 dư nợ của nhóm đó. Việc phân loại nợ và xác định nợ xấu đang ngày càng được coi trọng tại các NHTM. Bên cạnh việc xác định nợ xấu, các NHTM còn xây dựng một số chỉ tiêu phản ánh tình hình nợ xấu của chính ngân hàng mình để có những cái nhìn khách quan và toàn diện về hoạt động tín dụng như: Tổng nợ xấu, tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ nợ khó đòi/tổng dư nợ, tỷ lệ quỹ dự phòng/tổng nợ xấu.
Phân loại nợ theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN của NHNN Nhóm nợ Phương pháp định lượng Phương pháp định tính 1. Nợ đủ - Các khoản nợ trong hạn, có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc Có khả năng thu tiêu chuẩn và lãi đúng hạn; hồi đầy đủ cả (Current) - Nợ quá hạn dưới 10 ngày, có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc gốc và lãi đúng và lãi bị quá hạn, gốc và lãi đúng thời hạn còn lại.Nợ cần - Nợ quá hạn từ 10 – 90 ngày; Có khả năng thu chú ý - Nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu. hồi đầy đủ cả (Special nợ gốc và lãi mentioned) nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ.Nợ dưới - Quá hạn từ 91 – 180 ngày; Nợ không có tiêu chuẩn - Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu (trừ các khoản điều khả năng thu (Sub- chỉnh kỳ hạn lần đầu phân loại vào nhóm 2), miễn hoặc giảm hồi nợ gốc và standard) lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp lãi khi đến hạn, đồng tín dụng. có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi.
Nợ nghi - Quá hạn từ 181 – 360 ngày; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần Nợ có khả năng ngờ đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại tổn thất cao. (Doubtful) lần đầu; - Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần hai. Nợ có - Nợ quá hạn trên 360 ngày; Nợ không còn khả năng - Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở khả năng thu mất vốn lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; Nợ cơ cấu lại hồi, mất vốn. (Bad) thời hạn trả nợ lần thứ hai nhưng lại quá hạn; - Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn; Nợ khoanh, chờ xử lý.2 Nguyên nhân dẫn đến nợ xấu Để có thể phòng ngừa và xử lý nợ xấu một cách hiệu quả, ngoài việc phân loại và xác định nợ xấu thì một việc làm không thể thiếu và rất quan trọng cần phải làm đó là tìm hiểu, phân tích, đồng thời đưa ra kết luận chính xác về nguyên nhân, 6 nguồn gốc phát sinh nợ xấu.
Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rất nhiều nguyên nhân song nhìn chung, chúng có thể được sắp xếp vào hai nhóm nguyên nhân cơ bản sau: Nhóm nguyên nhân khách quan và nhóm nguyên nhân chủ quan 2.1 Nhóm nguyên nhân khách quan Trong nhóm nguyên nhân khách quan bao gồm: nhóm nguyên nhân từ môi trường kinh doanh và nhóm nguyên nhân từ phía khách hàng Nhóm nguyên nhân từ môi trường kinh doanh Thứ nhất, từ môi trường pháp lý Pháp luật Việt Nam hiện nay đã có những quy định và khung pháp lý cơ bản trong việc hạn chế và giải quyết nợ xấu như phân loại nợ, trích lập DPRR, xử lý TSBĐ, hoạt động mua bán nợ,…. Điển hình như Quyết định 493 hay mới đây nhất là Thông tư 02 được cho là tiệm cận gần với Basel II trong việc phân loại nợ và trích lập DPRR. Tuy nhiên, tại Việt Nam, do sự yếu kém trong quản lý và những hạn chế trong việc “Định danh khách hàng” đã khiến cho các quy định trên khi đi vào thực tế trở nên bất cập, không phát huy được hiệu quả như mong đợi; dẫn đến tình trạng nợ xấu không được cải thiện mà có xu hướng ngày càng tăng, trở thành “cục máu đông” chèn ép, bóp nghẹn nền kinh tế. Thứ hai, từ yếu tố kinh tế vĩ mô Nền kinh tế nói chung hay hoạt động sản xuất kinh doanh nói riêng dù ít hay nhiều cũng phải chịu sự tác động và ảnh hưởng từ các yếu tố kinh tế vĩ mô.
Hoạt động của các ngân hàng cũng không nằm ngoài quy luật đó. Khi một nền kinh tế đang tăng trưởng lành mạnh, tiềm năng sản xuất và tiêu dùng của xã hội lớn, sẽ tác động thúc đẩy hoạt động của các ngân hàng. Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái, thậm chí là rơi vào khủng hoảng sẽ làm sản xuất bị đình trệ, đầu tư giảm sút, giảm khả năng trả nợ của người vay. Từ đó tác động mạnh mẽ tới hoạt động kinh doanh của các ngân hàng.
Trong giai đoạn gần đây, Việt Nam đang chịu tác động tiêu cực từ cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu làm cho kinh tế suy giảm, hoạt động kinh doanh bị tê liệt; khả năng trả nợ của các cá nhân và doanh nghiệp giảm sút, là nguyên nhân trực tiếp hình thành nên các khoản nợ xấu khổng lồ.