CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN QUẢN TRỊ NGUỒN VỐN TỰ CÓ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Nguồn vốn tự có của ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm Nguồn vốn tự có là nguồn vốn riêng của ngân hàng do chủ sở hữu đóng góp và nó còn được tạo ra trong quá trình kinh doanh dưới dạng lợi nhuận giữ lại. Nguồn vốn này quyết định quy mô hoạt động của một ngân hàng cũng như các khả năng bảo vệ chính tổ chức sinh ra nguồn vốn này trong suốt quá trình hoạt động.2 Thành phần nguồn vốn tự có: Theo Hiệp ước Basel I thì nguồn vốn tự có của tổ chức tín dụng bao gồm vốn cơ bản và vốn bổ sung: 1.1 Vốn cơ bản (Vốn cấp 1): Vốn cơ bản bao gồm: Vốn cổ phần thường, lợi nhuận bổ sung hằng năm, quỹ dự trữ.2 Vốn bổ sung (Vốn cấp 2): Vốn bổ sung bao gồm: vốn cổ phần ưu đãi với thời hạn hơn 20 năm, dự phòng rủi ro, các trái phiếu (loại lai giữa trái phiếu và cổ phiếu) với thời hạn không dưới 7 năm và các công cụ tài chính lưỡng tính khác.3 Đặc điểm của nguồn vốn tự có: Nguồn vốn tự có cung cấp nguồn lực cho ngân hàng hoạt động trong thời gian mới bắt đầu hoạt động, là thời gian mà ngân hàng chưa nhận được tiền gửi từ khách hàng, giúp ngân hàng chống đỡ khi rủi ro phát sinh. Là nguồn vốn ổn định, thường xuyên tăng trưởng trong quá trình hoạt động, đồng thời nguồn vốn tự có liên tục vận động tham gia vào quá trình kinh doanh của ngân hàng. Mọi quyết định tăng thêm nguồn vốn tự có luôn gắn liền với yêu cầu về vốn pháp định của cơ quan quản lý, sự phát triển các sản phẩm, dịch vụ mới, mở rộng hoạt động của ngân hàng.
Mặc dù chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn (từ 10-15%) nhưng vốn tự có đóng vai trò vô cùng quan trọng vì là cơ sở để hình thành nên các nguồn vốn 4 khác của ngân hàng. Giá trị của nguồn vốn tự có gắn liền với uy tín, năng lực, vị thế của chủ sở hữu vốn và quan hệ cung cầu vốn trên thị trường. Nguồn vốn tự có quyết định quy mô hoạt động của ngân hàng, nó còn là yếu tố để các cơ quan quản lý dựa vào để xác định các tỉ lệ an toàn trong kinh doanh ngân hàng như giới hạn huy động vốn, giới hạn cho vay, giới hạn về đầu tư vào tài sản cố định, bảo lãnh… 1.4 Chức năng của nguồn vốn tự có: 1.1 Chức năng bảo vệ: Chức năng này thể hiện sức chịu đựng rủi ro của ngân hàng. Vốn tự có là lá chắn chống đỡ, bù đắp những tổn thất trong hoạt động kinh doanh ngân hàng.
Các ngân hàng phải có đủ nguồn vốn tự có để đảm bảo được khả năng thanh toán trong mọi trường hợp. Đồng thời còn phải cung cấp được một khoản vốn dự trữ đủ để duy trì được khả năng trả nợ tránh mọi sự đe dọa do thua lỗ. Bên cạnh đó, nguồn vốn tự có của NHTM còn phải đủ để tạo được sự tin cậy và an tâm cho khách hàng. Điều này thể hiện ở chỗ, hệ số vốn tự có đối với các khoản mục trong bảng tổng kết tài sản phải đạt mức độ mà ở đó khi ngân hàng bị thiệt hại dưới hình thức này hay hình thức khác, mà vẫn đủ vốn để đảm bảo sự an toàn vốn của người gửi tiền.
Bảo vệ quyền lợi cho người gửi tiền thực chất là bảo vệ sự an toàn cho chính ngân hàng vì kinh doanh ngân hàng là lĩnh vực hoạt động có tính nhạy cảm cao, thường xuyên gắn liền với các rủi ro. Đây cũng chính là lý do khiến cho NHNN rất quan tâm trong việc đưa ra những quy định giám sát chặt chẽ nguồn vốn tự có của các ngân hàng thương mại.2 Chức năng hoạt động: Thể hiện ở chỗ nguồn vốn tự có có thể được sử dụng để cho vay, hùn vốn hoặc đầu tư chứng khoán nhằm mang lại lợi nhuận cho ngân hàng. Tuy nhiên, do nguồn vốn tự có không chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn kinh doanh nên lợi nhuận mà nó mang lại cũng không cao. Vì vậy, chức năng hoạt động của ngân hàng chỉ là thứ yếu.3 Chức năng điều chỉnh: Nguồn vốn tự có là đối tượng mà các cơ quan quản lý ngân hàng thường căn cứ vào đó để xác định các tỷ lệ an toàn và ban hành những quy định nhằm điều chỉnh hoạt động của ngân hàng.
Nguồn vốn tự có còn là căn cứ để xác định và điều chỉnh các giới hạn hoạt động nhằm đảm bảo ngân hàng an toàn trong kinh doanh. Các giới hạn này được luật hóa bằng các tiêu chuẩn pháp lý cụ thể với hàng loạt các quy định ràng buộc có liên quan, dựa trên cơ sở phân loại mức độ rủi ro của các tài sản đầu tư, mức độ khó khăn, sự khác biệt giữa các ngân hàng… Chẳng hạn như, khi thành lập chi nhánh mới hoặc triển khai các hoạt động kinh doanh mới, quyết định đầu tư, cho vay, mua sắm tài sản, hay khi quyết định mua lại, sáp nhập… để có đủ khả năng thực hiện các quyết định trên và có đủ cơ sở pháp lý để được cấp giấy phép kinh doanh thì số nguồn vốn tự có của ngân hàng cũng phải được xác định lại sao cho đáp ứng các giới hạn đã được quy định cũng như tương ứng với các yêu cầu thực tế có thể phát sinh.2 Quản trị nguồn vốn tự có Quản trị nguồn vốn tự có của ngân hàng là việc nghiên cứu sự hình thành nguồn vốn tự có của ngân hàng một cách hợp lý đồng thời quan tâm đến các thành phần của nguồn vốn tự có đảm bảo cho các hoạt động kinh doanh của ngân hàng an toàn và có lãi.1 Ý nghĩa của quản trị nguồn vốn tự có: Ý nghĩa của việc thực hiện tốt công tác quản trị nguồn vốn tự có là: Tạo điều kiện để bảo vệ tài sản cho những khách hàng đã ký thác tài sản tại ngân hàng. Đảm bảo cho ngân hàng đạt được một mức vốn tự có hợp lý, kết cấu các thành phần phù hợp với các hoạt động và mức độ rủi ro trong kinh doanh. Xác định phương thức tăng nguồn vốn tự có hiệu quả nhất, đem lại nhiều lợi ích nhất cho ngân hàng với chi phí bỏ ra thấp nhất.
6 Tối đa hóa lợi nhuận thu được trên đồng vốn chủ sở hữu, đảm bảo tỷ lệ chia cổ tức cao để thu hút các nhà đầu tư và nâng cao vị thế của ngân hàng trên thị trường tài chính. Đảm bảo các hệ số rủi ro do NHNN quy định.2 Nội dung của quản trị nguồn vốn tự có: Vấn đề quan trọng hàng đầu đối với các nhà quản trị ngân hàng là làm sao xác định được hệ số an toàn vốn tự có và có chiến lược sử dụng nguồn vốn tự có hiệu quả để có thể vừa duy trì hoạt động của ngân hàng một cách an toàn vừa đem lại nhiều lợi ích nhất cho ngân hàng.1 Xác định mức vốn tự có hợp lý: Để xác định vốn ngân hàng cần phải đạt được, trước tiên phải tính toán số vốn mà ngân hàng hiện đang có là bao nhiêu. Có thể sử dụng các phương pháp sau: Xác định vốn ngân hàng theo giá trị sổ sách – Chuẩn mực kế toán đã được chấp nhận phổ biến – GAAP: Giaù trò soå saùch Giaù trò soå saùch Giaù trò soå saùch = - cuûa voán ngaân haøng cuûa taøi saûn cuûa caùc khoaûn nôï Döï phoøng Giaù trò soå saùch Meänh giaù cuûa Thaëng döï Lôïi nhuaän toån thaát töø = + + + cuûa voán ngaân haøng voán coå phaàn voán khoâng chia tín duïng vaø cho thueâ Tuy nhiên, theo thời gian, khi thời kỳ lãi suất thay đổi, giá trị các khoản cho vay và chứng khoán của ngân hàng sụt giảm, phương pháp này sẽ kém chính xác vì có sự khác biệt đáng kể giữa giá trị thực sự của tài sản có, tài sản nợ với giá trị nguyên thủy trên sổ sách. Xác định mức vốn ngân hàng theo Chuẩn mực kế toán quy tắc (Regulatory accounting principle – RAP): Vốn RAP = Vốn cổ phần của các cổ đông (cổ phần thường, thu nhập giữ lại và dự trữ)+Cổ phần ưu đãi vĩnh viễn+Dự phòng tổn thất tín dụng và cho thuê+Giấy nợ thứ cấp có khả năng chuyển đổi thành cổ phiếu thường + Các khoản khác (thu nhập từ công ty con, vốn góp vào doanh nghiệp khác).
7 Ở phương pháp này, vốn ngân hàng bao gồm cả các chứng khoán nợ, cổ phiếu mà ngân hàng đang nắm giữ từ các công ty khác, dự phòng tổn thất các khoản tín dụng xấu, đã làm cho quy mô vốn của ngân hàng dường như lớn hơn với sự an toàn cao hơn. Xác định mức vốn ngân hàng theo giá thị trường (Market value Capital – MVC): MVC = MVA – MVL Trong đó: MVC là giá trị thị trường của vốn MVA là giá trị thị trường của tài sản MVL là giá trị thị trường của nợ Ngân hàng có thể nhanh chóng ước lượng gần đúng vốn ngân hàng theo giá trị thị trường bằng công thức: Giaù trò thò tröôøng Soá löôïng coå phieáu MVC = x hieän taïi cuûa moãi coå phieáu ñaõ phaùt haønh Phương pháp này chỉ áp dụng được với những ngân hàng lớn vì hoạt động giao dịch cổ phiếu của nó đủ lớn để thiết lập giá trị thị trường. Kết quả xác định vốn ngân hàng bằng phương pháp này sẽ có biến đổi khá lớn vì phụ thuộc vào giá cổ phiếu của ngân hàng. Tuy nhiên nó đem lại kết quả phù hợp nhất trong việc đánh giá vốn của ngân hàng.
Nhà đầu tư có thể có những đánh giá tốt hơn về vốn của ngân hàng mà họ đang đầu tư để có quyết định tối ưu.2 Hoạch định nhu cầu vốn của ngân hàng Do phải chịu áp lực từ môi trường cạnh tranh cũng như áp lực từ phía cơ quan quản lý Nhà nước buộc phải tăng vốn, các ngân hàng phải càng quan tâm nhiều hơn đến việc hoạch định nhu cầu vốn trong tương lai. Mỗi ngân hàng có thể hình thành những hệ thống hoạch định khác nhau, tuy nhiên, đa số các ngân hàng tập trung vào 4 bước sau: Bước 1: Xây dựng kế hoạch tài chính tổng thể cho ngân hàng 8 Trước tiên, cần phải xác định loại ngân hàng mà họ muốn có là gì: Quy mô của ngân hàng, các dịch vụ mà ngân hàng sẽ cung cấp cho khách hàng, mức sinh lời mong muốn trong tương lai.