CHƯƠNG 1: NHUNG VAN DE LÝ LUẬN VE QUAN TRI CÔNG TY NHÀ NƯỚC 1. Những van đề lý luận về quản trị công ty nhà nước 1. Khái niệm, ý nghĩa, nội dung của quản trị công ty nhà nước 1. Khái niệm Đề có thê làm rõ được khái niệm của QTCTNN thì phải hiểu khái niệm của QTCT.
QTCT (corporate governance) một thuật ngữ hiếm gặp trước những năm 1990, nhưng giờ đây được sử dụng phô biến trên thế giới. Về phương diện ngôn ngữ, John Farrar (2005) cho rằng quản trị (governance) là một thuật ngữ bắt nguồn từ ngôn ngữ La tinh “gubernare” và “gubernator” với ý nghĩa là bánh lái một con tàu và thuyền trưởng của con tàu đó [37]. Với cách tiếp cận này, QTCT được hiểu là tập hợp các quy tắc nhằm đảm bảo rằng công ty được định hướng điều hành và được kiểm soát một các có hiệu quả vì quyền lợi của chủ đầu tư và những người liên quan đến công ty. Về mặt nội dung, QTCT có thé được định nghĩa theo nghĩa hẹp hoặc nghĩa rộng.
Một định nghĩa hẹp thường liên quan đến (i) các vấn đề về cơ cấu quản lý công ty: các van đề của HĐQT và mối quan hệ giữa HĐQT với các nhà quản lý, cô đông và (11) lợi ích hoặc mục tiêu của một nhóm tham gia của công ty. Theo nghĩa rộng, QTCT thiết lập một tổ hợp các mối quan hệ giữa các bên tham gia vào công ty và các mục tiêu đầy đủ của QTCT đó. QTCT được định nghĩa bởi Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) (2004) là một hệ thống gồm các luật lệ, quy tắc, quy trình nội bộ và việc thực hiện các nội dung này, với mục tiêu hướng dẫn, điều hành và kiểm soát hoạt động của một công ty. QTCT liên quan đến các mối quan hệ giữa Ban giám đốc, Hội đồng quan trị và các cổ đông của công ty với các bên có quyên lợi liên quan.
Hệ thống nay cũng thiết lập một cơ cau dé xác định mục tiêu của công ty và phương tiện dé đạt được những mục tiêu này. Hiệu quả của QTCT chỉ được coi là đúng khi nó khuyến khích Ban giám đốc và Hội đồng quản trị hoạt động với mục tiêu thúc đây lợi ích của công ty và cô đông. Đồng thời, nó cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc giám sát hoạt động của cô đông và các bên liên quan một cách hiệu quả, từ đó khuyến khích công ty sử dụng tải nguyên một cách tốt nhất [26]. Ủy ban Basel (2006) thì cho rằng QTCT là một tập hợp các quan hệ giữa HĐQT, Ban Kiểm soát, Ban Điều hành, các chủ sở hữu và những người có lợi ích liên quan nhằm tạo ra một cấu trúc hợp lý để đặt ra và thực hiện các mục tiêu cũng như hình thành một cơ chế giám sát hiệu quả [31].
Theo Tổ chức Tài chính quốc tế IFC (2010), QTCT là “øhững cơ cấu và những quá trình để định hướng và kiển soát công ty” [19]. Theo Ngân hàng thế giới World Bank, QTCT là một hệ thống các yếu tố pháp luật, thể chế và thông lệ quản lý của các công ty, cho phép công ty có thé thu hút được các nguồn tài chính và nhân lực, hoạt động có hiệu quả, và nhờ đó tạo ra gia tri kinh tế lâu đài cho các cô đông, trong khi vẫn tôn trọng quyền lợi của những người có lợi ích liên quan và của xã hội. Đặc điểm cơ bản nhất của một hệ thống QTCT là: (i) Tính minh bach của các thông tin tài chính, kinh doanh và quá trình giám sát nội bộ đối với hoạt động quan lý, (ii) Bảo đảm thực thi các quyền của tat cả các cổ đông, (iii) các thành viên trong HĐQT có thé hoàn toàn độc lập trong việc thông qua các quyết định, phê chuẩn kế hoạch kinh doanh, tuyên dụng người quan ly, trong việc giám sát tinh trung thực và hiệu quả của hoạt động quản lý và trong việc miễn nhiệm người quản lý khi cần thiết [45]. Quan điểm này của Ngân hàng Thế giới và Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đã trở thành nền tảng lý luận chung về QTCT trong quá trình lập pháp của nhiều quốc gia.
Chúng đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đến tư tưởng lập pháp ở mỗi quốc gia, đặc biệt là ở các nước thành viên của OECD và các nước nhận sự hỗ trợ lập pháp từ Ngân hàng Thế giới. QTCT điều chỉnh mối quan hệ giữa các bên khác nhau liên quan đến công ty, cụ thé là mỗi quan hệ nội bộ công ty giữa các cô đông (đối với Công ty cổ phần) hoặc thành viên góp vốn (đối với Công ty TNHH), Ban giám đốc điều hành, HĐQT/HĐTV; và mối quan hệ giữa công ty với những bên ngoài công ty có lợi ích liên quan. 10 QTCT được thực hiện hai chức năng chủ yếu là chức năng điều hòa và chức năng kiểm soát của công ty. QTCT bao gồm các yếu tố có khuynh hướng kết hợp, hỗ trợ lẫn nhau và thống nhất, phù hợp với nền kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia.
Nền kinh tế càng phát triển thì thiết chế quản trị càng phát triển, sự xác định vị trí, vai trò của các yếu tố, các cá nhân càng rõ ràng hơn. QTCT thường tập trung vào xử lý các van đề xuất phát từ mối quan hệ nội bộ và bên ngoài công ty, với mục tiêu hạn chế tối đa hóa hóa việc người quản lý và điều hành công ty lạm dụng quyền và trách nhiệm họ được giao dé phục vu lợi ich cá nhân hoặc lợi ích của người khác, hoặc gây lãng phí tài nguyên của công ty. Do đó, các quy định về QTCT chủ yếu tương quan đến Hội đồng quản trị, các thành viên của Hội đồng quản trị, Ban giám đốc điều hành và các cá nhân tham gia vào bộ máy quản lý của công ty. Tại Việt Nam, thuật ngữ “QTCT” vẫn tương đối mới và chưa được sử dụng như một thuật ngữ pháp lý chính thức và thống nhất về nội dung.
Có sự hiểu lầm về QTCT khi mọi người thường gdp hai khái niệm “quản trị” va “quản ly” lại với nhau. Một số người cho rằng QTCT bao gồm cả việc “quản trị nhà nước” đối với công ty (quan hệ quản lý từ Nhà nước theo hướng chiều dọc với tính chất áp đặt và mệnh lệnh), cùng với việc “quản trị quan hệ nội bộ công ty” (quản lý nội bộ công ty). Hiện nay, từ “quản trị” không thường được sử dụng trong quan hệ hành chính giữa Nhà nước và doanh nghiệp, mà thay vào đó, thuật ngữ “quản ly” và cụm từ “quản lý nhà nước” thường được dùng dé chỉ mối quan hệ này. Ngược lại, thuật ngữ “quản tri” trở nên phổ biến hơn khi nó được đề cập đến mối quan hệ nội bộ trong công ty.
Theo cách sử dụng này, “quản trị” 12 được hiểu như một hoạt động quan trọng cần thực hiện khi con người làm việc cùng nhau trong tổ chức dé đạt được mục tiêu chung. Theo quy định tại Bộ Quy chế QTCT áp dụng cho các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán/Trung tâm giao dịch chứng khoán ban hành kèm Quyết định số 12/2007/QD-BTC cũng đã giải thích thuật ngữ QTCT như sau: “QTCT” là hệ thống các quy tắc để đảm bảo cho công ty được định hướng điều hành và được kiêm soát một cách có hiệu quả vì quyên lợi của cô đông và những người liên quan II đến công ty [15]. Các nguyên tắc QTCT bao gồm: (1) Dam bảo một cơ cấu quản trị hiệu quả; (2) Đảm bảo quyền lợi của cô đông; (3) Đối xử công băng giữa các cổ đông; (4) Đảm bảo vai trò của những người có quyền lợi liên quan đến công ty; (5) Minh bạch trong hoạt động của công ty; HĐQT và Ban kiểm soát lãnh đạo và kiểm soát công ty có hiệu quả [15]. Cách hiểu trên đã tương đối phù hợp với thông lệ quốc tế về QTCT.
Tuy Quyết định trên đã hết hiệu lực và cách định nghĩa về QTCT không được đề cập đến trong các văn bản tiếp theo nhưng những quy định về QTCT đều nêu bật được tinh thần của cách định nghĩa đó, tức là QTCT được quan tâm các mặt một cách đầy đủ chứ không chỉ riêng liên quan đến vấn đề nội bộ của công ty. Do vậy, khi xây dựng quy chế QTCT, các công ty cần hết sức lưu ý đến toàn bộ những chủ thể liên quan đến công ty như cô đông/thành viên góp vốn, bộ máy quản lý, bộ máy điều hành, khách hàng, đối tác, chủ nợ, nhân viên, các cơ quan quản lý nhà nước. QTCT tốt góp phan cải thiện, nâng cao khả năng hoạt động của từng công ty, từ đó phát triển nền kinh tế chung. Đối với quốc gia như nước ta, việc tăng cường QTCT có thê phục vụ cho các mục đích chính sách công quan trọng.
LDN năm 2020 đã định nghĩa về DNNN như tại quy định tại LDN năm 2005 như sau: “DNNN bao gồm các doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, tổng số cổ phan có quyên biểu quyết theo quy định tại Diéu 88 của Luật này” [3]. Ly do mở rộng được Chính phủ giải thích là “nhằm thể chế hóa day đủ quan điểm của Đảng tại Nghị quyết số 12-NQ/TW về tiếp tục cơ cau lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN". Việc sửa đôi này là cần thiết dé phù hợp với chủ trương và các cam kết quốc tế, đáp ứng yêu cầu hội nhập khi nước ta đã tham gia Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Theo Hiệp định này, khái niệm DNNN là DNNN trực tiếp sở hữu hơn 50% vốn hay kiểm soát trên 50% quyền biểu quyết.
Việc thay đổi có tác động lớn đến khối doanh nghiệp bởi khi đã là DNNN thì việc quản lý doanh nghiệp phải tuân thủ các quy định chặt chẽ hơn nhiều về công tác cán bộ, tổ chức bộ máy, các chính sách cho người lao động (như lương, thưởng, các hoạt động đoàn thé.); đồng thời cũng tạo ra nhiều thuận lợi hơn 12 trong tiếp cận các nguồn vốn, các ưu đãi về đất đai. Mặt khác, khái niệm DNNN đang được điều chỉnh ở nhiều văn bản luật khác như Luật Xây dựng, Luật Ngân sách Nhà nước, Luật Quản lý tải sản công., Việc mở rộng khái niệm về DNNN tác động rất lớn đến hoạt động của nhiều doanh nghiệp, trong khi thực tế hiện nay, CƠ chế quản lý hoạt động của các DNNN rat phức tạp; nếu mở rộng thì quá trình cổ phần hóa cũng gặp nhiều khó khăn.