Chương 1. Cơ sở lý luận của đề tài Chương 2. Hiện trạng xung đột môi trường tại làng nghề sơn mài Hạ Thái Chương 3. Thực trạng quản lý xung đột môi trường và giải pháp quản lý xung đột môi trường trong phát triển làng nghề sơn mài Hạ Thái.
Kết luận và Khuyến nghị Tài liệu tham khảo Phụ lục 16 PHẢN II. NỘI DUNG CHÍNH CỦA LUẬN VĂN CHUONG 1. CO SỞ LÝ LUẬN CUA DE TÀI 1.1 Xung đột và các khái niệm liên quan 1. Khai niệm xung đột Đã có nhiều tác giả đưa ra những khái niệm xung đột khác nhau.
Bản thân từ “xưng đột” (conflict) đứng riêng bao hàm nhiều nghĩa, nhiều cấp độ. Theo từ điển tiếng Anh, conflict là trang thái đối lập hoặc thù địch, sự dau tranh; conflict cũng có nghĩa là sự mâu thuần, bat dong, bat hoà, tranh cãi, tranh luận, sự khác nhau, sự va chạm, không tương hợp. Theo từ điển trực tuyến Wikipedia, “Xung đột là trạng thái bất hoà do sự đối lập mang tính nhận thức hoặc hành động thực tế về các nhu câu, giá trị và lợi ích. Xung đột có thể mang tính chất nội tâm (bên trong cá nhân) hoặc hướng ngoại (giữa hai hay nhiễu cá nhân)[12].Trommsdorff cho rằng, “theo cách hiểu rộng lý thuyết xung đột là mọi tiếp cận khoa học xã hội mà trong đó các hiện tượng xung đột xã hội mang mộtý nghĩa trung tâm đối với việc giải thích các quan hệ xã hội và qua trình xã hội ” (11, tr.
Bernhard Giesen đưa ra định nghĩa: “Xung đột xã hội là các quan hệ và quá trình xã hội trong đó hai hay nhiều cá nhân hay nhóm xã hội có sự đối lập nhau trong việc giải quyết những van dé nhất định ” (10, tr. 171-172] Bernhard Giesen đã nhận xét rằng nếu hiểu khái niệm xung đột quá hẹp thì nó sẽ loại trừ những quan hệ xung đột tiềm ân giữa các nhóm xã hội ra khỏi việc phân tích, qua đó những điều kiện cấu trúc quan trọng cho sự hình thành hành động xung đột rõ ràng sẽ biến mất khỏi tầm quan sát. Trái lại, nếu hiểu quá rộng thi nó sẽ bao hàm bat ky dang nào của sự bất bình dang hay sự không cố định là quan trọng đối với hành động và phạm vi đối tượng của khoa học xã hội [31, tr. Do đó, để tránh việc hiểu quá rộng hay quá hẹp 17 chúng tôi chọn định nghĩa xung đột của Bernhard Giesen đã nêu ở trên.
Như vậy, hầu hết các lý thuyết về xung đột hiện nay đều thừa nhận xung đột là yếu tô đối lập sự hợp tác. Xung đột là tất yếu, phô biến, đa dạng và tạo nên những bước phát triển bình thường trong tất cả các quá trình xã hội và phát triển lịch sử. Bên cạnh khái niệm xung đột, các lý thuyết xung đột còn quan tâm nhiều đến vấn đề của xung đột như các dạng xung đột, khía cạnh xã hội của xung đột, nguyên nhân của xung đột, cường độ, các hình thức diễn biến, điều chỉnh và kết thúc xung đột. Tuy nhiên, với mục tiêu phân tích xung đột để quản lý, nghiên cứu này sẽ tập trung vào các đương sự xung đột (các nhóm xã hội trong làng nghé) và cách thức xử lý xung đột của họ, các nguyên nhân xung đột và hậu quả mà các xung đột gây ra.
Các dạng xung đột Có thể phân loại xung đột theo nhiều tiêu chí khác nhau tuỳ theo cách tiếp cận. Dưới đây, tác giả đưa ra một số cách phân loại như sau: - Phân loại theo đương sự xung đột: Người ta phan biệt 3 dạng đương sự xung đột hay phe phái xung đột, bao gồm: (1) Các cá nhân hoặc các nhóm tương tác; (2) Các tổ chức; (3) Các cộng đồng xã hội. - Phân loại theo mức độ xung đột: Có thê phân loại xung đột theo các mức độ xung đột khác nhau như: Không nghiêm trọng; Ít nghiêm trọng; Nghiêm trọng và Rất nghiêm trọng. + Không nghiêm trọng: Là xung đột ở mức thấp, không bắt nguồn từ những chênh lệch lợi thế về quyền lực, lợi ích, đồng thời các bên đương sự đều hiểu rất rõ, nó cũng không dẫn đến những tác hại quá lớn cho mỗi bên.
+ It nghiêm trọng: Xung đột ở mức này thường xuất hiện giữa các cơ sở sản xuất Sơn mài trong việc cùng cạnh tranh đưa sản phầm làng nghề sang thị trường các nước. Trong chừng mực nào đó, dạng xung đột này dễ dàn xếp giữa các đương sự. + Nghiêm trọng: Là những xung đột có thé dẫn đến phản ứng mạnh mẽ 18 giữa các đương sự xung đột như: biểu tình, chặn đường v. Ví dụ vụ xung đột bãi rác Kiêu Ky, mâu thuẫn giữa cộng đồng nhân dân địa phương với chủ đầu tư dự án dẫn đến biéu tinh, chặn đường.
+ Rất nghiêm trọng: Là những xung đột bắt nguồn từ những bat bình đăng lớn về quyền lực, không chỉ về mặt tài nguyên ma cả những bat bình đăng về tài chính, chính trị. Loại xung đột này có thể dẫn tới xung đột vũ trang như cuộc chiến tranh tranh chấp nguồn nước giữa một số nước. - Phân loại theo nguyên nhân dẫn đến xung đột: Có xung đột nhận thức; xung đột mục tiêu; xung đột lợi ích; và xung đột quyền lực. Các đương sự xung đột Các đương sự xung đột hay phe phái xung đột về cơ bản được chia thành hai loại là các cá nhân và nhóm tham gia vào xung đột.
Người ta phân biệt ba dạng đương sự xung đột hay phe phái xung đột, bao gồm: gồm các cá nhân hoặc các nhóm tương tác; các tổ chức; các cộng đồng xã hội. Khi xung đột diễn ra và chúng ta cần có các biện pháp dé giải quyết xung đột bởi vì đặc trưng của xung dot là: + Xung đột không tự mat đi. * Xung đột có thé đem lại lợi ích. » Xung đột là một hiện tượng tự nhiên.
» Xung đột có thé tạo xung đột lớn hơn. Vậy giải quyết xung đột bằng cách nào? Van dé này sẽ được tìm hiểu trong phần tiếp theo. Cách thức xử lý xung đột Theo học thuyết xung đột xã hội, giải quyết xung đột xã hội nghĩa là duy trì trật tự xã hội, là hoạt động ôn định tạo ra sự hai hoà giữa các thành viên trong cơ cấu xã hội. Nó biểu hiện tính tô chức của đời sống xã hội, tính chuân mực của các hành động xã hội.
19 Các cơ chế đảm bảo cho trật tự xã hội là các thiết chế xã hội. Các thiết chế xã hội này điều chỉnh các mối quan hệ (mà chủ yếu là mối quan hệ kinh tế giữa các nhóm hoặc các giai cấp xã hội). Sự điều chỉnh này thường cần đến những lợi ích của các nhóm, các lợi ích này sẽ được điều chỉnh cho đến khi đạt được một sự công bang theo quan niệm cua xã hội cu thể nào đó, thông qua chức năng kiểm soát xã hội, các thiết chế bảo đảm tính ôn định và trật tự xã hội phụ thuộc vào sự mềm dẻo, tính hiệu quả của các thiết chế đó. Biéu hiện bên ngoài của sự phá vỡ tính ôn định và trật tự xã hội là sự suy giảm tính năng động của hệ thống, sự xuất hiện những trì trệ, hoặc là tăng cường về số lượng và phạm vi của những xung đột, hay là sự suy giảm mức độ hài lòng về xã hội.
Nó còn thể hiện qua sự tăng cường về số lượng những biểu hiện chống đối như bãi công, bạo động, bãi khoá, tăng cường sự vô tô chức. Sự vi phạm tính 6n định và trật tự xã hội có thé mang tinh chất định tính hoặc định lượng. Các nhà lý luận của lý thuyết xung đột cho rằng trật tự xã hội được thiết lập khi nhóm xã hội có quyền lực, sức mạnh phù hợp dé duy tri vi tri thong tri của minh va nhóm bị thống trị phải chấp nhận địa vị phụ thuộc. Tuy nhiên, trật tự này chỉ mang tính chất tạm thời vì trong nó ngầm chứa một mâu thuẫn cơ bản.
Mâu thuẫn của các nhóm xã hội có lợi ích đối lập nhau. Các nhà xã hội học thừa nhận xung đột là hiện tượng phổ biến trong xã hội. Cần phân biệt xung đột xã hội với rỗi loạn xã hội. Không phải xung đột nảo cũng dẫn tới rỗi loạn xã hội.
Người ta chia xung đột xã hội làm hai loại. Loại thứ nhất là những xung đột làm nguy hại cho sự tồn tại của nhóm- tức là nguy hại đến trật tự xã hội. Loại khác là biểu trưng cho sức sống cá nhân. Đó là loại xung đột không phá vỡ trật tự xã hội mà thậm chí còn duy trì, củng cố và phát triển nó.
Như vậy, về mặt lý thuyết, cách thức xử lý xung đột là dùng các thiết chế xã hội dé quản lý, điều tiết xung đột xã hội. Các nguyên nhân xung đột Các nhà nghiên cứu theo trường phái xung đột đều cho rằng có thể có nhiều nguyên nhân dẫn tới xung đột. Tuy vậy, tư tưởng của họ đều gặp nhau ở một điểm đó là: Sự hưởng lợi không đồng đều, cao hơn nữa là sự cạnh tranh về mặt lợi ích giữa các cá nhân hoặc các nhóm xã hội thường là nguyên nhân gốc rễ dẫn đến xung đột. Các nhà xã hội học cũng chỉ ra rằng: Những nhóm được ưu đãi (chiếm ưu thé trong việc phân chia quyền lợi) thường cỗ gắng trong việc tạo ra khả năng giữ vững một hệ thống giá trị để duy trì một cơ cấu xã hội theo hướng có lợi cho họ.
Hệ thống giá trị này vận hành theo hai cách chính. Thứ nhất, những giá trị này tồn tại nhờ sự kiểm soát và cưỡng chế hành vi mang tính trực tiếp của nhóm lợi thé đối với nhóm bat lợi. Tuy nhiên, trong thực tế, đây là các kiểm soát xã hội thiếu tính bền vững. Hình thức tồn tại thứ hai dựa trên những nỗ lực không phải để nghiền nát sự đối lập mà ngăn chặn chúng ngay tu đầu bằng cách kiểm soát ý thức của nhóm bất lợi và cố gang tao ra sự tán thành từ phía ho dé họ chấp nhận địa vị bị phụ thuộc và kém được ưu đãi của chính mình, cho đến nay, đây vẫn là hình thức kiểm soát xã hội hiệu quả nhất (Tony Bilton, 1993)[7, tr.
Theo định nghĩa của Bernhard Giesen thì sw đối lập về quyền lợi là nguyên nhân gây ra xung đột.Balla cho rằng, có hai dạng xung đột chính là xung đột về quyền lợi và xung đột về giá tri [11, tr. Moore, bên cạnh nguyên nhân về quyền lợi va giá trị con có 3 nguyên nhân khác là: dữ liệu, cơ cầu và quan hệ.