CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ XÂY DỰNG TRƯỜNG MẦM NON ĐẠT CHUẨN QUỐC GIA 1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu của các tác giả trên thế giới Bất cứ giai đoạn lịch sử nào, giáo dục và đào tạo (GD-ĐT) luôn đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển của mỗi cá nhân, tập thể, cộng đồng, dân tộc và cả nhân loại. Do đó, từ trước đến nay, sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ luôn được sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội.
Với quan điểm giáo dục là quốc sách hàng đầu, Đảng và Nhà nước đã có nhiều Nghị quyết về phát triển GD-ĐT trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Giáo dục quốc gia Indonesia đã công nhận giáo dục mầm non là giai đoạn tiền đề cho hệ thống giáo dục cơ bản. Thụy Điển coi giai đoạn mầm non là “Thời kỳ vàng của cuộc đời” và thực hiện các chính sách ưu đãi tuyệt đối, trẻ 5 tuổi có thể theo học không mất tiền. Giáo dục Thái Lan nhấn mạnh gia đình và Chính phủ phải cùng chia sẻ trách nhiệm đối với giáo dục mầm non nhằm thực hiện Công ước quốc tế về quyền trẻ em.
Còn theo ông Sheldon Shaeffer, Giám đốc Văn phòng Giáo dục UNESCO khu vực châu Á - Thái Bình Dương, giáo dục mầm non thúc đẩy sự phát triển tình cảm cũng như các kỹ năng về ngôn ngữ, nhận thức và thể chất của trẻ, chính những kỹ năng mà đứa trẻ tiếp thu được qua các chương trình chăm sóc, giáo dục mầm non sẽ là nền tảng cho hoạt động học tập sau này của trẻ, bởi đây là giai đoạn phát triển đặc biệt quan trọng của bộ não trẻ. Đối với hoạt động KĐCLGD đã được hình thành và có lịch sử lâu đời. Nó được bắt nguồn từ châu Mỹ cụ thể là từ Bắc Mỹ và Hoa Kỳ. Mặc dù vậy, hoạt động này mới chỉ phát triển ở những năm 90 của thế kể XX, khi mà giáo dục đại học của thế giới đang chuyển dần từ nền giáo dục theo định hướng của nhà nước sang nền giáo dục theo định hướng thị trường.
Năm 1885, ở New England thuộc miền Đông Bắc Hoa Kỳ đã thành lập một tổ chức phi chính phủ gọi là Hội các trường học và trường cao đẳng của New England (NE). Đây là một tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục địa phương đầu tiên thuộc phạm vi vùng gồm một số bang với mục đích là “đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục bằng cách thúc đẩy lợi ích chung cho cả hai loại trường là cao đẳng và trường chuẩn bị vào cao đẳng” Hội này đổi tên thành Hội các trường Cao đẳng và Trung học của New England năm 1957. “Kiểm định cơ sở đào tạo tại địa phương có phạm vi bao trùm toàn bộ một cơ sở đào tạo với sự cố gắng giữ được các tiêu chuẩn đối với mọi hoạt động của cơ sở đó mà không phải chứng minh chất lượng một bộ phận nào của cơ sở đó”. 7 Ở châu Á, các nước như Hàn Quốc, Nhật Bản cũng đã xây dựng hệ thống KĐCLGD với chu kỳ kiểm định 7 năm/lần kiểm định.
Thái Lan đã ban hành chính sách quốc gia về bảo đảm chất lượng đào tạo đại học từ 1996 và thử nghiệm đánh giá bên ngoài từ 1997. Đối với Singapo, hệ thống đánh giá bên ngoài của các Trường Đại học Quốc gia do các chuyên gia của các trường đại học danh tiếng trên thế giới đến đánh giá 2 năm/lần. Philipin thực hiện 9 biện pháp cải cách giáo dục cơ bản để nâng cao chuẩn của chất lượng giáo dục đại học trên toàn quốc. Trung Quốc đã ban hành quy chế tạm thời về đánh giá các cơ sở giáo dục và đào tạo đại học.
Ản Độ đưa ra hệ số tính điểm để thể hiện rõ những tiêu chí đánh giá quan trọng. Đối với Ôxtraylia, vấn đề bảo đảm chất lượng được chú trọng từ những năm 1980 và một số trường đã bước đầu thành công trong việc tổ chức và đánh giá trường theo định kỳ. Đến nay cơ chế bảo đảm chất lượng ở Ôxtraylia đã hình thành với nhiều cơ quan, như Cơ quan chất lượng các đại học Ôxtraylia (AUQA)… Vấn đề bảo đảm chất lượng giáo dục đại học Malaysia theo mô hình của NiuDilân với cơ chế đảm bảo chất lượng bên trong và bên ngoài. Để một trường đào tạo có thể được phép tổ chức các khóa học thì các khóa đó phải được đánh giá bằng 2 chuẩn cơ bản được gọi là chuẩn tối thiểu và chuẩn kiểm định.
Các nghiên cứu của các tác giả trong nước Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng xác định: “Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục; thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá” [18]. Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã khẳng định “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở GD-ĐT và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, XH và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học” [22, tr. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng lại tiếp tục khẳng định: “Đổi mới chính sách, cơ chế tài chính, huy động sự tham gia đóng góp của toàn xã hội; nâng cao hiệu quả đầu tư để phát triển GD-ĐT. Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong đầu tư phát triển GD-ĐT, ngân sách nhà nước chi cho GD-ĐT tối thiểu ở mức 20% tổng chi ngân sách; nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ngân sách nhà nước… Tiếp tục thực hiện mục tiêu kiên cố hoá trường, lớp học; từng bước hiện đại hoá cơ sở vật chất - kỹ thuật, đặc biệt là hạ tầng công nghệ thông tin (CNTT)” [23].
8 Để thực hiện chủ trương, định hướng đổi mới GD-ĐT của Đảng, Chính phủ đã xây dựng Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020 với mục tiêu phấn đấu: “Đến năm 2020, nền giáo dục nước ta được đổi mới căn bản và toàn diện theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế; chất lượng giáo dục được nâng cao một cách toàn diện, gồm: giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, năng lực sáng tạo, năng lực thực hành, năng lực ngoại ngữ và tin học; đáp ứng nhu cầu nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng nền kinh tế tri thức; đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục và cơ hội học tập suốt đời cho mỗi người dân, từng bước hình thành xã hội học tập”. Với ý nghĩa và tầm quan trọng của giáo dục mầm non như vậy, ở nước ta, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách nhấn mạnh vai trò quốc sách hàng đầu của giáo dục và trong đó đặc biệt quan tâm giáo dục mầm non. Rất nhiều chủ trương, chính sách ra đời đặc biệt ưu tiên đến giáo dục mầm non, trong đó có nhiều Quyết định, Thông tư quy định về trường mầm non đạt chuẩn quốc gia như: Quyết định số 36/2008/QĐ-BGD&ĐT, ngày 16/7/2008 kèm theo Quy chế công nhận trường mầm non đạt chuẩn quốc gia; Thông tư số 02/2014/TT-BGDĐT, ngày 08/02/2014 thay thế Quyết định số 36/2008/QĐ- BGD&ĐT. Xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia ở các cấp học, bậc học là một trong những giải pháp chính nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường, góp phần “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.
Từ đây, có rất nhiều các nhà nghiên cứu khoa học đã tìm hiểu và đánh giá việc áp dụng công tác KĐCLGD vào thực tế như: Nguyễn Đức Chính (2002) trong công trình “Kiểm định chất lượng trong giáo dục” đã trình bày rất rõ các khái niệm liên quan đến thuật ngữ KĐCLGD. Nghiên cứu này đã đi sâu, chi tiết các phương pháp, kỹ thuật, quy trình, cơ chế, chính sách KĐCLGD ở các nước Châu Âu, Hoa Kỳ, Châu Á Thái Bình Dương. Trong những năm gần đây, có một số công trình nghiên cứu cụ thể về vấn đề này như: “Thực trạng và giải pháp tăng cường cơ sở vật chất xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia ở Hải Phòng” của tác giả Phạm Thị Loan, đăng trên tạp chí phát triển giáo dục số 2- tháng 02/2005. “Biện pháp quản lý xây dựng trường MN đạt chuẩn quốc gia của Phòng GD&ĐT huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa” (năm 2014)… Các công trình trên đều tập trung vào một số nội dung xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia ở từng địa phương cụ thể, cơ bản các địa phương đều có cơ cấu tổ chức bộ máy 9 hệ thống giáo dục giống nhau, nhưng trong quá trình hoạt động lại rất đa dạng và phong phú, vì mỗi địa phương có sự khác biệt về điều kiện địa lý, kinh tế - xã hội, thực trạng giáo dục nên các biện pháp để xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia có sự khác biệt.
Vì vậy, việc nghiên cứu thực tế ở các trường mầm non nhằm đưa ra các biện pháp phù hợp với thực tế địa phương là hết sức cần thiết. Xác định nhiệm vụ quan trọng trong việc kiểm định chất lượng giáo dục và xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia, năm 2018, Bộ Giáo dục - Đào tạo ban hành Thông tư 19/2018/TT-BGDĐT, ngày 22/8/2018 quy định về kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận đạt chuẩn quốc gia đối với trường mầm non. Theo Thông tư này có 05 tiêu chuẩn đó là: Tổ chức và quản lý nhà trường; Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên; Cơ sở vật chất và thiết bị dạy học; Quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội; Hoạt động và kết quả nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ. 05 tiêu chuẩn này dùng để đánh giá chất lượng trường mầm non, mỗi tiêu chuẩn có từ 02 tiêu chí trở lên.
Khi đánh giá ngoài sẽ đánh giá 5 tiêu chuẩn này, mỗi tiêu chuẩn có từ 02 tiêu chí trở lên; vậy khi trường được đánh giá đạt 5 tiêu chuẩn này thì được công nhận đạt kiểm định chất lượng giáo dục theo cấp độ.