CHƯƠNG 1 Nhằm quản lý dự án thông qua ba giá trị “chi phí- chất lượng- tiến độ” hay còn gọi là tam giác mục tiêu đạt được hiệu quả ta cần có công cụ hay phương pháp hỗ trợ. Hiện nay phương pháp giá trị đạt được (EVM) đã và đang được phát triển trong việc quản lý tam giác mục tiêu điển hình là có phương pháp giá trị chất lượng đạt được (EQVM) và phương pháp giá trị đạt được thông qua lịch trình (ESVM). Tuy nhiên hai phương pháp này đang làm việc riêng lẻ chưa có sự tích hợp lại, với phương pháp quản lý giá trị đạt được từ chất lượng và lịch trình (EQSVM) sẽ giúp cho ta có giá trị đạt được (EV’) đúng với thực tế hơn, từ đó ta hiệu chỉnh lại các công thức tính toán về phương sai chi phí (CV), phương sai lịch trình (SV), hiệu suất chi phí (CPI), hiệu suất lịch trình (SPI) một cách chính xác hơn theo thực tế thi công. Phương pháp quản lý giá trị đạt được từ chất lượng và lịch trình (EQSVM) sẽ dùng phương pháp véc tơ lực để làm phương pháp tính toán tìm ra giá trị đạt được (EV’) trên hệ tọa độ đề các, thay hệ trục tọa độ OXY thành hệ tọa độ mới, với trục x thay thành trục thời gian, trục Y thanh trục chất lượng.
5 HVTH: Nguyễn Thái Phương-2170887 Luận văn Thạc Sĩ CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU II. Cái khái niệm cơ bản. Dự án và quản lý dự án. Dự án thường được hiểu "điều mà người ta có ý định làm".
Theo "Cẩm nang các kiến thức cơ bản về quản lý dự án" của Viện Nghiên cứu Quản lý dự án Quốc tế (PMI) thì: "dự án là một nỗ lực tạm thời được thực hiện để tạo ra một sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất". [13] Như vậy dự án có hai tính chất: 1. Tạm thời (hay có thời hạn) - nghĩa là mọi dự án đều có điểm bắt đầu và kết thúc được xác định. Dự án cũng có thể đạt được mục tiêu đề ra ban đầu và cũng có thể không hoàn thành được mục tiêu đề ra ngay từ đầu mà buộc lòng phải chấm dứt dự án.
Hầu hết các trường hợp, thời gian dự án là xác định, dự án thường có thời gian liên tục và tiếp diễn nối tiếp nhau. Duy nhất – không phải có nghĩa là cái độc nhất hoàn toàn mà nghĩa là sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất đó khác biệt so với những sản phẩm đã có hoặc dự án khác. Dự án thường được nhắc đến việc gì đó chưa từng làm trước đây và do vậy là duy nhất. Mục 17, điều 3, Luật Xây dựng năm 2003 định nghĩa: dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định.
Theo định nghĩa của tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hoá ISO, trong tiêu chuẩn ISO 9000: 2000 và theo tiêu chuẩn Việt nam (TCVN ISO 21500: 2012) thì dự án được định nghĩa như sau: Dự án bao gồm một tập hợp duy nhất các quá trình gồm các hoạt động được kết hợp và kiểm soát với thời gian bắt đầu và kết thúc, được thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu của dự án. Việc đạt được các mục tiêu của dự án đòi hỏi cung cấp các sản phẩm bàn giao phù hợp với các yêu cầu cụ thể. 6 HVTH: Nguyễn Thái Phương-2170887 Luận văn Thạc Sĩ Có thể hiểu nghĩa chung nhất một dự án cũng được xem như một lĩnh vực có tính đặc thù riêng với một hoặc một vài nhiệm vụ cụ thể mà cần hoàn thành theo các phương thức riêng cho từng nhiệm vụ cụ thể nào đó gồm nguồn lực riêng và một kế hoạch tiến độ xác định. Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định.
Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng, dự án được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng. Quản lý dự án là việc áp dụng kiến thức, kỹ năng, công cụ và kỹ thuật vào các hoạt động dự án để đáp ứng các yêu cầu của dự án. Quản lý dự án được thực hiện thông qua ứng dụng phù hợp và tích hợp các quy trình quản lý dự án được xác định cho dự án. Quản lý dự án cho phép các tổ chức thực hiện các dự án hiệu quả và hiệu quả.
Quản lý dự án là một quá trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát các công việc và nguồn lực để hoàn thành các mục tiêu đã định. Quản lý dự án được đánh giá là thành công thường có các đặc điểm sau: hoàn thành trong thời gian hạn định, hoàn thành trong chi phí cho phép, đạt được kết quả mong muốn bằng cách sử dụng nguồn lực được giao một cách hiệu quả và hữu hiệu. Nội dung của lập kế hoạch dự án bao gồm các công việc: - Xác định các giai đoạn chính thực hiện dự án, phân tích chúng thành các bộ phận nhỏ hơn và có thể quản lý được. - Xác định các công việc, hình thành danh sách các công việc cụ thể đảm bảo đạt mục tiêu của dự án.
- Lập dự toán, tính toán giá trị của các nguồn lực cần thiết để hoàn thành các công việc của dự án. 7 HVTH: Nguyễn Thái Phương-2170887 Luận văn Thạc Sĩ - Xác định trình tự các công việc, xác định mối liên hệ công nghệ giữa chúng và các hạn chế. - Xác định độ dài thời gian của các công việc, nhu cầu nhân lực và các nhu cầu khác để thực hiện từng việc. - Tính toán thời gian biểu, phân tích mối liên hệ công nghệ trong thực hiện các công việc và yêu cầu đối với các nguồn lực.
- Lập kế hoạch nguồn lực, xác định những nguồn lực nào (con người, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu.) cần thiết và cần bao nhiêu để thực hiện các công việc của dự án. Xác định thời hạn công việc có thể thực hiện trong sự giới hạn các nguồn lực. - Lập ngân sách, gắn chi phí dự toán cho từng hoạt động. - Tổng hợp và viết thuyết minh kế hoạch dự án.
Ý nghĩa của kế hoạch dự án: - Là cơ sở tuyển dụng, điều phối nhân lực; là cơ sở để giao quyền cho cán bộ quản lý dự án. - Là cơ sở để lập ngân sách và kiểm tra tài chính dự án. - Điều phối và quản lý các công việc của dự án. - Giúp quản lý rủi ro của dự án.
- Tạo điều kiện cho việc kiểm tra, giám sát. - Tránh tình trạng không khả thi của công việc có thể gây lãng phí nguồn lực và những hiện tượng tiêu cực. Tam giác mục tiêu dự án. Tam giác mục tiêu dự án gồm: chi phí, thời gian, chất lượng có liên quan gắn bó chặt chẽ với việc đo lường sự thành công của quản lý dự án.
Những mục tiêu này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với chủ đầu tư và nhà thầu xây dựng [14],[15],[16]. Chúng tạo này tam giác 8 HVTH: Nguyễn Thái Phương-2170887 Luận văn Thạc Sĩ mục tiêu mà bất kì doanh nghiệp nào cũng luôn muốn phấn đấu để tạo sự tối ưu như một đảm bảo về uy tín để tồn tại và phát triển. Nếu một trong ba mục tiêu thay đổi thì hiển nhiên 2 mục tiêu còn lại sẽ thay đổi theo, hay nói một cách đơn giản là giảm mục tiêu giảm xuống thì có ít nhất một mục tiêu khác sẽ tăng lên. Theo Hiệp hội quốc gia các kỹ sư tư vấn (1913), FIDIC thì các bên tham gia gồm: chủ đầu tư, nhà thầu, tư vấn và mục tiêu dự án: chất lượng, chi phí, tiến độ.
Chất lượng Chủ đầu tư Tư vấn Chi phí Nhà thầu Thời gian Hình 2. 1 Tam giác mực tiêu dự án và các chủ thể xây dựng. Tuỳ theo điều kiện thực tế thì những vấn đề riêng các mục tiêu này có thể bị thay đổi so với mong muốn và kế hoạch ban đầu. Do đó việc tích hợp công cụ quản lý thống nhất theo dõi kiểm tra đánh giá tam giác mục tiêu là điều cần thiết.
Các phương pháp nghiên cứu II. Giá trị đạt được (EVM) Trong vài năm trở lại đây thì thị trường xây dựng trở nên bão hòa, chính vì thế các Nhà thầu đã cố gắng để quản lý các dự án một cách tối ưu trong chi phí chất lượng và thời gian. Rủi ro trong việc tăng chi phí và tiến độ là vấn đề thường xuyên xảy ra trong việc quản lý, nếu không kiểm soát tốt vấn đề này có thể trở nên nghiêm trọng [18]. 9 HVTH: Nguyễn Thái Phương-2170887 Luận văn Thạc Sĩ Hệ thống quản lý giá trị thu được (EVM) là hệ thống quản lý của một tổ chức để quản lý chương trình và dự án, tích hợp một tập hợp xác định các phạm vi công việc, lịch trình và gân sách liên quan để lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát quản lý hiệu quả; nó tích hợp các chức năng này với các hệ thống kinh doanh khác như kế toán và nguồn nhân lực trong số những hệ thống khác, EVM là việc sử dụng thông tin quản lý hiệu suất, được tạo ra từ EVMS, để lập kế hoạch, chỉ đạo, kiểm soát và báo trước việc thực hiện và hoàn thành hợp đồng/chi phí dự án, tiến độ và các mục tiêu hiệu suất kỹ thuật so với kế hoạch.
Nhận thấy sự khác biệt trong các định nghĩa, các tác giả coi EVM và EVMS là hai thuật ngữ khác nhau trong nghiên cứu này và giải quyết cả hai một cách thích hợp. Hơn nữa, EVMS cung cấp một số lợi ích như khả năng đo lường tiến độ của dự án, khả năng hiển thị trạng thái hiệu suất, so sánh điểm chuẩn với các dự án và chương trình trước đó, dự báo hiệu suất trong tương lai và cảnh báo sớm về các vấn đề tiềm ẩn.