Chương 1: Cơ sở lí luận về quản lí phát triển năng lực nghề nghiệp của giảng viên ngành CTXH tại trường đại học. Chương 2: Thực trạng quản lí phát trién nang lực nghề nghiệp của giảng viên ngành CTXH tại các trường đại học ở thành phô Hỗ Chí Minh Chương 3: Biện pháp quản lí phát triển năng lực nghé nghiệp của giảng viên ngành CTXH tai các trường đại học ở thành pho Hồ Chí Minh 11 CHUONG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VE QUAN LÍ PHÁT TRIEN NANG LỰC NGHÈ NGHIỆP CUA GIẢNG VIÊN NGÀNH CONG TAC XÃ HỘI TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu về quản lí phát triển năng lực nghề nghiệp của giảng viên ngành Công tác xã hội tại trường đại học 1.
Nghiên cứu về năng lực nghề nghiệp của giảng viên và giảng viên ngành Công tác xã hội tại trường đại học Trong giáo đục đại học, năng lực nghẻ nghiệp của giảng viên là chủ đề nhận được sự quan tâm của nhiều học giả trên thé giới. Ho đưa ra các tiếp cận khá đa dạng vẻ năng lực nghề nghiệp của giảng viên trong các công trình nghiên cứu khoa học. Các nghiên cứu về năng lực nghề nghiệp của giảng viên theo tiếp cận các chuẩn kiến thức, kỹ năng, thái độ nghề nghiệp vẫn được áp dụng khá phô biến trong các nghiên cứu giáo dục và quản lí giáo dục đại học. Theo hướng tiếp cận này, các nhà nghiên cứu cho rằng năng lực nghề nghiệp của giảng viên thường gắn liền với kiến thức.
kỹ năng hoặc thái độ hướng đến mục tiêu người giảng viên thực hiện hiệu quả các hoạt động của một nghề nghiệp hoặc chức năng nhất định theo các tiêu chuẩn mong đợi (Bird & Osland, 2004; Connell, Sheridan, & Gardner, 2003; OECD, 2002; Roe, 2002). Bên cạnh hướng tiếp cận nêu trên, các nhà nghiên cứu tìm hiéu các thành phan của năng lực nghề nghiệp của giảng viên nhằm đáp ứng các yêu cầu về giáo đục và đào tao trong bối cảnh phát trién nhanh chóng của giáo dục đại học. Nghiên cứu của Selvi (2010) tong kết năng lực nghé nghiệp của giảng viên bao gôm các thành phần năng lực: (1). Năng lực nghề nghiệp: (2).
Nang lực nghiên cứu: (3). Năng lực học tập suốt đời; (4). Năng lực văn hóa-xã hội; (5). Năng lực cảm xúc; (6).
Năng lực giao tiếp: (7). Năng lực công nghệ thông tin; (8). Năng lực kiêm soát môi trường. Trong nghiên cứu sau đó, Joy (2013) cho rằng nang lực nghề nghiệp của giảng viên là sự tông hợp của năng lực giảng day, năng lực tô chức va năng lực đánh giá sinh viên.
Năng lực nghề nghiệp của giảng viên được chia thành ba lĩnh vực chính là năng lực nghề nghiệp, năng lực sư phạm và năng lực văn hóa (Bulajeva, 2003; Hansen, 1998; James & cộng sự, 1998; Stoffels, 2005). Cách tiếp cận này nhận được 12 sự quan tâm của nhiều nhà khoa học khi họ nghiên cứu vẻ chất lượng của người giảng viên trong giáo dục đại hoc. Hill và cộng sự (2008) kết luận một giảng viên được công nhận đảm bảo năng lực nghề nghiệp phải có khả năng kết hợp năng lực chuyên môn và nghiệp vụ liên quan đến bỗi cảnh giảng day trong thực tiễn. Nhìn chung, xu hướng hiện nay các học giả quan tâm đến các thành phần năng lực cụ thê của giảng viên.
Người giảng viên tham gia giảng đạy các ngành đào tạo khác nhau. Do đó, năng lực nghề nghiệp của giảng viên trong mỗi ngành đào tạo có những điểm khác biệt. Các nghiên cứu về giáo dục và đào tạo CTXH trong trường đại học dé cập đến những người tham gia công tác giảng dạy CTXH can có nên tảng cốt lõi về kiến thức CTXH trong việc giảng dạy để cung cấp kiến thức chuyên ngành phù hợp cho sinh viên. Họ là các giảng viên trong khoa CTXH tại các trường đại học và có vai trò giám sát các sinh viên tại các cơ sở thực hành/ thực tập.
Giảng viên ngành CTXH có năng lực cần thiết trong việc xây đựng nên tảng cốt lõi của giáo đục CTXH hướng tới phát trién nhân viên CTXH có chat lượng trong tương lai. Giảng viên CTXH được đào tạo bài bản có thẻ tạo điều kiện học tập cho sinh viên trong suốt quá trình giảng dạy. Việc tiếp xúc với nén tang lý thuyết và thực hành CTXH, sinh viên sẽ định hướng họ trở thành những nhân viên xã hội có trình độ trong tương lai (Costin & cộng sự, 2016). Nghiên cứu sâu về năng lực chuyên môn của giáng viên CTXH, các học giả dé xuất nên tảng năng lực chuyên môn CTXH bao gồm: kiến thức các học phan lý thuyết và thực hành CTXH và mối liên hệ giữa chúng (Osmond, 2006).
Trevithick (2008) kết luận năng lực chuyên môn CTXH gồm có: kiến thức các học phần bô trợ của chuyên ngành CTXH, kiến thức lý thuyết CTXH và kiến thức thực tiễn CTXH. Nghiên cứu về vai trò giáng viên CTXH trong bỗi cảnh giáo dục đại học, vai trò của họ có sự thay đôi từ người trung tâm của quá trình dạy và học sang người hướng dẫn sinh viên tiếp cận tri thức mới và nâng cao kỹ năng thực hành. Năng lực sư phạm của giảng viên CTXH được thực hiện thông qua các phương pháp giảng day tích cực như học tập kiến tạo, học tập dựa trên vấn dé và hợp tác trong học tập (Carelse & Dykes, 2013). Trong các nghiên cứu về chuẩn nghề nghiệp của giảng viên ngành CTXH, phan lớn các học giả ở Hoa Kỳ cho rằng người giảng viên can có năng lực thực hành 13 nghề CTXH trong thực tiễn.
Dựa trên một nghiên cứu thống kê các thông báo tuyển dụng giảng viên CTXH, Anastas đã liệt kê bốn yêu câu sau đây là yếu t6 quan trọng dé giảng viên ứng tuyên thành công tại các trường đại học đào tạo CTXH tai Hoa Kỳ: (1) Giảng viên có băng Thạc sĩ CTXH và có kinh nghiệm thực hành trình độ sau thạc si; (2) Giảng viên có kinh nghiệm giảng day và đã xuất bản bài viết nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực này; (3) Giảng viên có chuyên môn nghè nghiệp được xác định rõ ràng, phù hợp với những gì tô chức tuyên dụng yêu cầu; (4) Giảng viên có năng lực thực tiễn nghề CTXH (Anastas, 2012). Nghiên cứu khám phá năng lực thiết yếu trong giảng day của các giảng viên ngành CTXHở các trường đại học công lập Malaysia. Nhóm tác giả áp dụng thiết kế nghiên cứu định tính để điều tra năng lực nghề nghiệp của giảng viên ngành CTXH gồm những yếu tô nào? Nghiên cứu đã tiền hành phỏng van cá nhân đối với các giảng viên phụ trách giảng dạy các học phần chuyên ngành CTXH tại các trường đại học công lập ở Malaysia. Kết quả cho thay bên cạnh nén tảng kiến thức chuyên ngành CTXH vững vàng.
các giảng viên tin tưởng năng lực nghề nghiệp của họ can các nhóm năng lực cốt lõi nhằm đảo tạo sinh viên CTXH có chất lượng: năng lực giao tiếp, năng lực nhận thức, năng lực phân tích. năng lực hướng dẫn thực hành và năng lực thực tiễn nghề CTXH (Nadia & cộng sự, 2022) Trong giáo dục CTXH, đảo tạo thực địa (còn gọi là thực hành thực địa) là thuật ngữ được sử dụng dé mô tả trải nghiệm thực tế mà sinh viên CTXH tham gia khi họ tích hợp lý thuyết và thực hành. Trải nghiệm thực tế này có lịch sử lâu đời trong giáo dục CTXH và được coi là một thành phân cốt lõi của giáo dục CTXH trên toàn cầu (Domakin, 2015). Các học giả (Fox, 2017) và Bogo (2015) đã điều tra và chứng minh tim quan trọng của thực hành CTXH đối với việc học của sinh viên.
Phương thức học tập này cung cấp cho sinh viên cơ hội thực hành và áp dụng các kỹ nang và kiến thức đã học vào các tình huống thực tiền CTXH. Vi vậy, năng lực hướng dan và đánh giá sinh viên của giảng viên CTXH cũng phải thê hiện qua môi trưởng giáo dục thực địa (Gray, 2013). Dễ thực hiện tốt nhiệm vụ dao tạo thực địa, giáng viên phái có năng lực thực tiễn nghề CTXH. Có thê nói, năng lực thực tiễn nghề CTXH là đặc trưng 14 trong năng lực nghé nghiệp của giảng viên CTXH, là nền tảng dé giảng viên kết hợp cùng các thành phần năng lực khác đề thực hiện vai trò dẫn dắt sinh viên tiếp cận môi trường học tập thực tiến CTXH (Fox, 2017; Bogo, 2015).
Hiện nay, giáo dục đại học tại Việt Nam phải đối mặt với những thách thức dé nâng cao chat lượng giáo duc va dao tạo một cách toàn diện. Nghiên cứu của Nguyễn Văn Nhã và Vũ Ngọc Tú đưa ra một số thách thức của giáo dục đại học Việt Nam. Các tác giả cho rằng trong quá trình đôi mới và hội nhập quốc tế, giáo dục đại học Việt Nam đang phải giải quyết những van dé về khả năng vẻ đào tạo nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; cơ cấu các trường đại học không hợp lý: nguồn lực các trường đại học phụ thuộc nhiều vào ngân sách nhà nước; nội dung và phương pháp đào tạo còn lạc hậu, tập trung nhiều vào lý thuyết hơn thực hành; thiếu nguồn giảng viên có trình độ chuyên môn cao và có khả năng tiếp cận trình độ nghiên cứu khoa học quốc tế; cơ chế quản lí tập trung hóa dẫn đến các trường chưa có mức độ tự chủ cần thiết (Nguyễn Văn Nhã & Vũ Ngọc Tú, 2015). Trong một nghiên cứu khác, Nguyễn Ngọc Hiếu cho rằng những thách thức của giáo dục đại học Việt Nam tập trung ở các khía cạnh: tự chủ trong giáo duc; yêu cầu đảo tạo nhân lực của doanh nghiệp và thị trường trong bối cảnh hội nhập: điều kiện về trang thiết bị, cơ sở vật chất phục vụ cho việc đạy học và nghiên cứu; chất lượng dao tạo ngoại ngữ trong các cơ sở giáo dục đại học; sự cạnh tranh của các mô hình giáo dục mới (Nguyễn Ngọc Hiếu, 2020).
Chương trình đào tao, tài liệu học thuật và phương pháp giảng dạy chủ yếu sử dụng phương pháp giảng dạy truyền thông van phô biến trong giáo dục đại học. Điều này không chỉ dẫn đến việc tiếp tục sử dụng các giáo trình, tài liệu học thuật lỗi thời mà còn là nguyên nhân khiến đội ngũ giảng viên không có động lực bắt kịp các xu hướng toàn cầu, chậm chạp trong việc tiếp nhận sự phát triển của các tài liệu mới hơn và tốt hơn (Nguyễn Văn Nhã & Vũ Ngọc Tú, 2015). Hayden và cộng sự (2015) cũng nhân mạnh rằng các phương pháp giảng dạy vẫn rất truyền thống: quá trình đổi mới chương trình còn chậm, còn quan liêu; thu nhập từ lương chính thức không đủ hấp dẫn dé tạo ra một cam kết nghề nghiệp mạnh mẽ cũng như tạo động lực dé giảng viên tích cực phát triên nang lực nghề nghiệp.