Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở trường trung học phổ thông. Chương 2: Thực trạng quản lý việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông. Chương 3: Biện pháp quản lý việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề Trong xã hội hiện nay, với sự bùng nổ thông tin, con người càng phải học tập nhiều môn khoa học hơn. Vai trò của người thầy chỉ là làm nhiệm vụ hướng dẫn người học tự đi tìm và lĩnh hội tri thức. Sự xuất hiện và phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và truyền thông đã, đang và sẽ là nhân tố thúc đẩy sự phát triển của thế giới. Có thể nói, công nghệ thông tin và truyền thông đã tác động tích cực tới hầu hết các ngành nghề trong xã hội, trong đó có lĩnh vực giáo dục, nơi tính hiệu quả của việc ứng dụng công nghệ thông tin cả trong dạy học và trong quản lý đều đã được chứng minh.Leinonen thì lịch sử ứng dụng CNTT trong giáo dục đã và đang trải qua 5 giai đoạn – xu hướng, đó là: (1) Cuối những năm 70 đến đầu những năm 80: Lập trình, luyện tập và thực hành; (2) Cuối những năm 80 đến đầu những năm 90: mô hình đào tạo với sự hỗ trợ của máy vi tính (Computer based training - CBT); (3) Đầu những năm 90: mô hình đào tạo dựa trên mạng Internet (Internet-based training - IBT); (4) Cuối những năm 90 đến đầu năm những năm 2000: mô hình e- learning; (5) Và sau những năm 2000: Mô hình của mạng xã hội và nội dung mở, miễn phí.
7 Xu hướng chung của nền kinh tế thế giới đã bước vào giai đoạn nền kinh tế tri thức, vì vậy việc nâng cao chất lượng GD&ĐT sẽ là yếu tố quyết định sự phát triển của mỗi quốc gia. Việc áp dụng CNTT vào giáo dục chính là một trong những biện pháp để nâng cao chất lượng giáo dục. Nhiều quốc gia trên thế giới như Mỹ, Canada, Autralia, Nhật Bản, Singapore, Pháp, Anh, Hàn Quốc. đã chú trọng đến việc ứng dụng CNTT vào GD&ĐT và đạt được nhiều thành tựu.
Các nước này đã có nhiều chương trình quốc gia về tin học hóa và ứng dụng CNTT vào các lĩnh vực khoa học kỹ thuật, đặc biệt là ứng dụng vào GD&ĐT. Chính vì vậy, họ đã thu được nhiều thành tự rất đang kể trên các lĩnh vực như: Công nghệ, Y tế, Công nghiệp kỹ thuật cao, giáo dục, khoa học môi trường. Trong nước, Bộ chính trị ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 01/7/2014 nội dung nhấn mạnh “Đẩy mạnh ứng dụng, phát triển CNTT đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế đã xác định rõ những mục tiêu ngành CNTT Việt Nam cần đạt tới trong thời gian tới: CNTT phải được ứng dụng rộng rãi và trở thành ngành kinh tế có tác động lan tỏa trong phát triển kinh tế xã hội bảo đảm quốc phòng, an ninh, góp phần nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia, chất lượng cuộc sống, chỉ số phát triển con gnười Việt Nam và nâng cao khả năng phòng thủ quốc gia trong chiến tranh mạng. Đến năm 2030, đưa năng lực nghiên cứu, ứng dụng phát triển, sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ CNTT đạt trình độ tiên tiến thế giới.
Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về CNTT và bằng CNTT”. Trước đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chọn năm học 2008 - 2009 là năm CNTT bao hàm CNTT trong quản lý, điều hành tác nghiệp và trong giảng dạy học tập. Trong thời đại công nghệ 4.0, việc ứng dụng CNTT vào đổi mới giáo 8 dục đang là xu thế tất yếu không thể đảo ngược ở nhiều quốc gia trên thế giới. Và ở Việt Nam, ngành giáo dục cũng cần phải thay đổi tư duy, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ, tận dụng tối đa mọi nguồn lực xã hội để có thể “đi tắt, đón đầu” cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 trong tương lai gần.
Chính phủ đã phê duyệt Đề án “Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và hỗ trợ các hoạt động dạy - học, nghiên cứu khoa học góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến năm 2025” theo Quyết định số 117/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, nhằm đón đầu cuộc cách mạng 4.0 trong giáo dục. Thực hiện đề án, ngành giáo dục và đào tạo đã tích cực đẩy mạnh ứng dụng CNTT, không ngừng tìm kiếm các giải pháp thiết thực và hiệu quả, nhằm góp phần đổi mới phương pháp dạy và học. Một số công trình nghiên cứu vấn đề liên quan trong những năm gần đây, ví dụ như: - Luận văn Thạc sĩ Giáo dục học của tác giả Võ Ngọc Vĩnh (2006): “Các biện pháp quản lý hoạt động dạy học tin học của HT trường THPT tỉnh Bình Định”. - Luận văn Thạc sĩ Giáo dục học của tác giả Phạm Duy Sơn (2014): “Biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học ở các trường THPT thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định”.
- Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục của tác giả Trần Thị Đản (2006): “Một số biện pháp tổ chức triển khai việc ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy của hiệu trưởng trường THCS Văn Lang thành phố Việt Trì - tỉnh Phú Thọ”. - Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục của tác giả Nguyễn Văn Tuấn (2006): “Một số biện pháp chỉ đạo việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác quản lý dạy học tại các trường THPT”. 9 - Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục của tác giả Nguyễn Xuân Cảnh (2008): “Biện pháp ứng dụng CNTT trong quản lý dạy học ở các trường THPT tỉnh Ninh Bình”. - Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục của tác giả Lê Duy Khánh (2016): “Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở các trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định”.
Các tác giả trên, thông qua bài nghiên cứu, luận văn của mình cũng đã đề cập đến những vấn đề cơ bản của hoạt động quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học. Đã phần nào tìm hiểu và khái quát về các khái niệm: CNTT, quản lý ứng dụng CNTT. Trình bày được những công việc cần thiết mà người HT phải tiến hành thực hiện để giúp cho hoạt động được hiệu quả. Đã đề xuất được một số biện pháp quản lý phù hợp với hoàn cảnh và thực trạng của địa bàn họ nghiên cứu.
Từ phía Bộ GD&ĐT, những năm gần đây đã có các đề án, dự án nhằm nâng cao năng lực giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục cũng như tăng tính hiệu quả của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong nhà trường. Ở Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học hàng năm, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin luôn được nhấn mạnh. Nhờ vậy, trong những năm gần đây đã có những bước tiến nhất định ở lĩnh vực ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục. Đối với giáo dục và đào tạo, Công nghệ thông tin là công cụ đắc lực hỗ trợ đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập và quản lý, góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục.
Tuy nhiên, làm thế nào để việc ứng dụng CNTT đạt hiệu quả cao nhất trong quản lý giáo dục, bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ cán bộ, giáo viên đang là vấn đề được ngành giáo dục đặc biệt quan tâm. Trình độ CNTT của cán bộ quản lý giáo dục, của giáo viên là một 10 nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp đến việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy, ảnh hưởng trực tiếp đến công cuộc thay đổi giáo dục căn bản toàn diện trong xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập. Vì vậy, trong khuôn khổ luận văn này chúng tôi muốn dựa trên cơ sở lý luận ứng dụng CNTT trong dạy học, để tìm hiểu thực trạng việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy ở một số trường THPT tại thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông, từ đó đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động này nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học trong trường THPT đáp ứng được yêu cầu đổi mới của giáo dục hiện nay. Một số khái niệm cơ bản 1.
Quản lý Quản lý là một hiện tượng xuất hiện rất sớm, là một phạm trù tồn tại khách quan được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia, mọi thời đại. Các nhà khoa học đã đưa ra nhiều khái niệm quản lý từ các góc độ khác nhau: - F.Taylo (1856-1915), người đề xuất thuyết “Quản lý khoa học” cho rằng: Quản lý là biết được điều bạn muốn người khác làm, và sau đó thấy được họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất. Hoạt động quản lý ở bất kỳ tổ chức nào cũng đều có các hoạt động cơ bản liên quan đến các chức năng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra trên cơ sở thu thập và xử lý thông tin. - Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mĩ Lộc, định nghĩa kinh điển về quản lý là: “Quản lý là tác động có định hướng, có chủ định của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”.
Cụ thể hơn, “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng 11 cách vận dụng các hoạt động (chức năng): kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [7 tr.