Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀO DẠY HỌC TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI SỐ TẠI CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC VÀ TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu trên thế giới Từ những năm 1980, các nghiên cứu đã chứng minh rằng việc sử dụng công nghệ máy tính có thể thúc đẩy học sinh, tăng cường sự hướng dẫn cho các học sinh có nhu cầu đặc biệt, nâng cao thái độ của học sinh đối với việc học, hỗ trợ giáo viên trong việc thực hiện một số nhiệm vụ giảng dạy thường lệ. Báo cáo năm 1990 của Hiệp hội các nhà xuất bản phần mềm về hiệu quả của các máy vi tính trong trường đã trình bày các nghiên cứu cho thấy rằng việc sử dụng công nghệ như một công cụ học tập có thể tạo ra sự khác biệt tích cực về thành tích, thái độ và tương tác của học sinh với giáo viên và các học sinh khác (Ellen R.
Bialo and Jay SivinKachala, 2018). Tài liệu Dạy và học khoa học Tiểu học với công nghệ thông tin của tác giả Paul Warwick, Elaine Wilson, Mark Winterbottom cung cấp một loạt các hiểu biết sâu sắc về học tập của học sinh liên quan đến việc sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) trong khoa học như: cung cấp các ví dụ cụ thể về sử dụng phần mềm và phần cứng trong lớp học, cân nhắc việc sử dụng công nghệ và sáng tạo cho học sinh tham gia hoạt động khoa học trong những năm đầu tiên ở tiểu học, cho biết khả năng tương lai của việc sử dụng các công nghệ thông tin vào dạy học. Kennedy, Andrew Klein và Creighton Peet, 2010). Đề tài Sử dụng thiết bị đa phương tiện trong dạy học tại tiểu học một cách đơn giản và hiệu quả đã nghiên cứu đánh giá hiệu quả của việc sử dụng các trang thiết bị đa phương tiện để kích thích các giác quan của trẻ nhằm 8 nâng cao hiệu quả dạy học (Deepa Awasthi, 2014).
Các nghiên cứu ở Việt Nam Nghiên cứu về đề tài "Quản lí hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học tại các trường tiểu học Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh" được thực hiện bởi Huỳnh Thị Kim Hoa vào năm 2018. Nhằm góp phần nâng cao chất lượng việc ứng dụng CNTT trong dạy học, việc nghiên cứu lý thuyết và thực tế công tác quản lí việc áp dụng CNTT trong giảng dạy ở các trường tiểu học Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh đã được tiến hành. Các giải pháp quản lí đã được kiến nghị bao gồm: Tăng cường nhận thức về vai trò và ý nghĩa của việc sử dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy tại các trường tiểu học Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh. Việc tổ chức huấn luyện cho giáo viên về cách áp dụng CNTT vào việc giảng dạy.
Nâng cao quản lí việc sử dụng CNTT đối với hoạt động dạy học của giáo viên. Thúc đẩy việc quản lí sử dụng CNTT đối với hoạt động học của học sinh. Điều chỉnh quản lí về cơ sở vật chất và thiết bị giảo án tiên tiến để phục vụ cho môi trường học tập ngày càng hiện đại và tiên triển. Nghiên cứu của Ngô Thị Thu Dung (2021) về “Cơ sở lý luận về chuyển đổi số trong dạy học” Việc chuyển đổi số trong các trường hiện đang tồn tại nhiều bất cập và diễn ra khá tự phát do hạ tầng công nghệ thông tin và tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19.
Hiện tại, rõ ràng còn thiếu các định nghĩa vững chắc về mặt lý thuyết về số hóa và chuyển đổi số trong nghiên cứu giáo dục, cũng như khả năng đáp ứng của nó đối với bối cảnh thực tiễn ở Việt Nam. Nghiên cứu trình bày các yêu cầu và đặc điểm của chuyển đổi số trong giáo dục, dựa trên đó số hóa và quản lý chuyển đổi số được xác định để phục vụ cho việc hướng dẫn, kiểm soát và triển khai giáo dục số. Nghiên cứu của Bùi Thị Huế, Bùi Đức Thịnh, Vũ Thị Tuyết Lan (2022) về “Chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo: Thực trạng và Giải pháp”. Theo nghiên cứu, việc hiểu đúng về chuyển đổi số, đánh giá chính xác thực trạng, 9 xác định và dự báo các thách thức cần được xem xét để tạo ra lộ trình hợp lý cho việc thực hiện chuyển đổi số.
Việc này có ý nghĩa đặc biệt đối với các sinh viên đại học trong thời kỳ ngày nay bởi vì nó góp phần nâng cao chất lượng và hiệu suất của việc giảng dạy. Chuyển đổi số trong cơ sở giáo dục cần được xem là giải pháp lâu dài mang tính chiến lược, gắn với những cải cách mạnh mẽ, triệt để trong giảng dạy, học tập và quản lý đào tạo, chứ không phải là giải pháp tình huống ứng phó với Covid-19. Trong chuyển đổi số thì quan trọng nhất không phải công nghệ, cũng không phải là đầu tư kinh phí mà chính là quyết tâm chính trị cao nhất của người đứng đầu cơ sở giáo dục và nhận thức sẵn sàng thay đổi của đội ngũ viên chức giảng viên trong các nhà trường. Có thể nhận thấy quản lí áp dụng CNTT vào hoạt động dạy học ở trường phổ thông trong bối cảnh chuyển đổi số là một vấn đề cấp thiết theo kết quả nghiên cứu trên.
Việc áp dụng CNTT vào quản lí các hoạt động giáo dục nói chung và quản lí dạy học nói riêng đang có nhiều vấn đề cần được đi sâu nghiên cứu. Tại các trường TH&THCS trên địa bàn huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái hiện nay vẫn có sự nhầm lẫn, cho rằng ứng dụng CNTT là chuyển đổi số, việc thực hiện chuyển đổi số trong các nhà trường mang tính tự phát, chưa có sự kết nối, liên thông và chỉ dừng lại ở một số khía cạnh công việc của nhà trường, chưa mang tính tổng thể, đồng bộ. Còn thiếu sự hướng dẫn và chiến lược chuyển đổi số, chưa nắm được quy trình, mô hình, cách thức chuyển đổi số. Vì thế, tác giả đã đi sâu nghiên cứu vấn đề này trong phạm vi các trường TH và THCS ở huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái nhằm đề xuất được một số biện pháp quản lí góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong các trường.
Một số khái niệm cơ bản 1. Công nghệ thông tin 10 Theo Bách khoa toàn thư Wikipedia, ngành Công nghệ thông tin (CNTT) được hiểu là ngành áp dụng phương pháp quản lí và xử lí thông tin, theo đó sử dụng máy tính và chương trình máy tính nhằm thu nhận, lưu trữ, bảo quản, xử lí, trao đổi và cung cấp thông tin. Luật CNTT số 67/2006/QH11 ngày 29/6/2006 đã định nghĩa ngành CNTT là tổng hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và phương tiện kỹ thuật tiên tiến được sử dụng nhằm tổ chức, truyền nhận, bảo quản, xử lí, lưu trữ và cung cấp thông tin số. TheoPhó Đức Hoà và Ngô Quang Sơn, Công nghệ thông tin là tổng hợp các phương pháp khoa học và các phương tiện kỹ thuật tiên tiến để thu thập, quản lí và sử dụng nguồn tài nguyên thông tin rộng lớn thuộc mọi mặt đời sống của loài người và xã hội.
Do đó, CNTT là khái niệm mô tả các ngành khoa học và công nghệ liên quan đến thông tin và quy trình xử lí thông tin. Nó sử dụng các phương pháp khoa học, công nghệ và các thiết bị hiện đại như máy tính nhằm thu nhận, lưu trữ, truyền tải và sử dụng thông tin hữu hiệu đối với mọi mặt vận động của đời sống như kinh tế, khoa học kỹ thuật, xã hội. Ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học * Khái niệm ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học Ứng dụng công nghệ vào dạy học là việc sử dụng các thiết bị và công nghệ nhằm hỗ trợ việc giảng dạy và học tập tại một cơ sở giáo dục. Trong giáo dục hiện nay, công nghệ thông tin là một ứng dụng phổ biến và mạnh mẽ và nó đem tới vô vàn tiện ích đối với cả thầy cô và học sinh.
Nhằm thúc đẩy công tác ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong nhà trường phổ thông được thực hiện có hiệu quả. Thông báo về việc hướng dẫn thực hiện Đề án ứng dụng CNTT tại trường học phổ thông được Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) phê duyệt kèm theo văn bản số 5807/BGDĐT-CNTT ngày 21 tháng 12 năm 2028. Mô hình ứng dụng CNTT tại trường học phổ 11 thông sẽ giúp các nhà trường phổ thông định hướng được mục đích, phạm vi, mức độ ứng dụng CNTT đối với từng lĩnh vực giáo dục phù hợp với định hướng ngành và tình hình thực tiễn, đem lại hiệu quả đầu tư và ứng dụng CNTT một cách thiết thực; hỗ trợ các cấp quản lí giáo dục thực hiện công tác hoạch định chiến lược, lập kế hoạch và triển khai công tác ứng dụng CNTT trong nhà trường phổ thông theo đúng chủ trương của ngành và phù hợp với tình hình thực tiễn. Ứng dụng CNTT vào dạy học cũng được hiểu là sử dụng các phương tiện kĩ thuật tin học, sử dụng mạng máy tính, cùng với việc sử dụng các thiết bị dạy học tiên tiến để thực hiện các hoạt động học tập ở học sinh phù hợp với yêu cầu dạy học.
Ứng dụng CNTT vào dạy học ở TH&THCS có thể phân thành 4 mức độ từ thấp đến cao như sau: - Mức 1: Sử dụng CNTT nhằm hỗ trợ GV thực hiện một vài công việc chuyên môn như soạn thảo văn bản, in ấn tài liệu, sưu tập tài liệu. nhưng không sử dụng CNTT nhằm tiến hành dạy học các tiết học cụ thể. - Mức 2: Trong toàn thể quá trình dạy học, sử dụng CNTT nhằm trợ giúp một môn học, một chủ đề nào đó. - Mức 3: Sử dụng phần mềm dạy học nhằm hỗ trợ dạy học một chương trình, một số tiết, một vài chuyên đề.
- Mức 4: Ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình dạy học. * Khái niệm môi trường ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học Môi trường ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học (Technology- Enhanced Learning Environment - TELE) là môi trường giáo dục tích hợp công nghệ thông tin vào tất cả các khía cạnh của quá trình dạy học, bao gồm: Lập thời khoá biểu: Giáo viên có thể sử dụng các công cụ dạy học như tạo thời khoá biểu bài dạy, làm đề thi, quản lý học sinh,. Giảng dạy: Giáo viên có thể sử dụng trang thiết bị giảng dạy như màn hình cảm ứng, máy chiếu, video, audio,. nhằm thu hút học sinh và truyền tải 12 kiến thức hiệu quả hơn.
Học tập: Học sinh có thể sử dụng laptop, máy vi tính bàn, điện thoại thông minh, .