phần mở đầu + Phần thứ hai: Nội dung nghiên cứu, gồm 3 chƣơng. Chƣơng 1:Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Tiếng Anh ở các trƣờng tiểu học. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Tiếng Anh ở các trƣờng tiểu học huyện Tuy Phƣớc, tỉnh Bình Định. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Tiếng Anh ở các trƣờng tiểu học huyện Tuy Phƣớc, tỉnh Bình Định.
+ Phần thứ ba: Kết luận và khuyến nghị. e 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH Ở CÁC TRƢỜNG TIỂU HỌC 1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề 1.Những nghiên cứu ở nước ngoài về hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học tại một số nước. Trên thế giới, vai trò của công nghệ thông tin trong sự phát triển xã hội đã đƣợc nhấn mạnh: Tuyên bố chung cấp bộ trƣởng các nƣớc Liên minh châu Âu trong Chƣơng trình nghị sự số tại cuộc họp cấp Bộ trƣởng ngày 19/4/2010 ở Tây Ban Nha nêu rõ công nghệ thông tin đóng góp đến 50% sự tăng trƣởng về năng suất lao động và là nguồn chủ yếu cho các sáng tạo và các cơ hội kinh doanh mới, đồng thời khẳng định: “Một chiến lược tăng trưởng bền vững, thông minh cần phải lôi cuốn tất cả mọi người để mọi công dân đều có cơ hội và kỹ năng tham gia đầy đủ vào một xã hội được thúc đẩy bởi Internet”.
Trong Thông điệp Liên bang ngày 25/1/2011, Tổng thống Mỹ Obama cũng nhấn mạnh công nghệ thông tin là một trong ba ƣu tiên hàng đầu sẽ giúp Mỹ năng động hóa nền kinh tế, khôi phục sự phát triển và duy trì vị trí hàng đầu thế giới toàn diện. Ông nêu rõ trong 5 năm tới phải làm cho 98% ngƣời dân Mỹ đƣợc sử dụng công nghệ không dây thế hệ mới. “Điều này không đơn thuần là nói về kết nối Internet tốc độ cao hơn hay ít cuộc gọi bị rớt hơn, mà là về việc kết nối mọi miền của nước Mỹ với kỷ nguyên số. Đó là về những người nông dân và doanh nghiệp nhỏ có thể bán hàng của mình trên toàn thế giới.
Đó là về những người lính cứu hỏa có thể tải xuống thiết bị cầm tay bản thiết kế ngôi nhà đang cháy; là sinh viên có thể đi học với sách giáo khoa điện tử; hay người bệnh có thể nói chuyện qua video với bác sĩ của mình”, Obama tuyên bố. Nhật đã thể hiện mức độ ƣu tiên phát triển công nghệ thông tin rất cao khi thành lập Cơ quan đầu não về Chiến lƣợc công nghệ thông tin do Thủ Tƣớng làm e 7 Tổng giám đốc (Kiyoshi Mori 2008) và ra chính sách “u-Japan” (Ubiquitous Japan 2006) với tham vọng kết nối mọi ngƣời và mọi thứ ở mọi lúc mọi nơi bằng ứng dụng công nghệ thông tin. Đây cũng là lĩnh vực đƣợc chính phủ Trung Quốc nhìn nhận nhƣ động lực quan trọng nhất cho sự phát triển kinh tế và chiến lƣợc “đuổi kịp” các nƣớc phát triển khác. Tiếp đến là sự đóng góp của các nhà giáo dục Pestalozzi, Francis, Parker, Ovide, Decroly và Maria Montessori.
Ở một số nƣớc phát triển nhƣ Pháp, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore…đều sớm chú trọng đến việc quản lý hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong mọi lĩnh vực của cuộc sống. Các nƣớc này đã xây dựng rất nhiều chƣơng trình quốc gia về tin học hóa. Họ coi đây là vấn đề then chốt của cuộc Cách mạng khoa học kĩ thuật, là chìa khóa để xây dựng và phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc, tăng trƣởng nền kinh tế để xây dựng và phát triển nền kinh tế tri thức, hội nhập với các nƣớc trong khu vực trên toàn thế giới. Đặc biệt, họ đã sớm nhận ra tầm quan trọng của CNTT đối với giáo dục: “Máy tính đang thay đổi cách chúng ta làm việc và cách chúng ta sống…Chúng ta sẽ dùng CNTT để khuyến khích học sinh, sinh viên học một cách độc lập hơn, tích cực hơn.
Với quan điểm nhƣ trên, các nƣớc đã đề ra những chính sách, kế hoạch để quản lý hoạt động việc ứng dụng CNTT hết sức cụ thể. Chẳng hạn: Cộng hòa Pháp: Chính sách quốc gia đầu tiên mang tên Plan de Cancul đề xuất vào giữa những năm 60 của thế kỷ XX, dƣới thời Tổng thống De Gaulles. Nhật Bản: Đề ra “Kế hoạch về một xã hội thông tin - mục tiêu quốc gia tới năm 2000” đã đƣợc công bố vào năm 1972. Đài Loan: Từ những năm 1980, “Kế hoạch 10 năm phát triển CNTT ở Đài Loan” đã chỉ rõ những vấn đề then chốt mà chính phủ làm để phát triển CNTT, tạo khả năng cạnh tranh thành công trên thị trƣờng thế giới.
Singapore: Ngày 28/4/1997, Bộ Giáo dục Singapore đã khởi động kế hoạch tổng thể về Công nghệ thông tin trong giáo dục (Master Plan for IT in Education). Đây đƣợc coi là một bản kế hoạch chi tiết nhằm tích hợp CNTT vào hệ thống giáo dục nằm đáp ứng những thách thức của thế kỉ XXI. e 8 Hàn Quốc xác định rõ: Mục tiêu chiến lƣợc của chính sách đẩy mạnh tin học hóa ở Hàn Quốc là xây dựng một xã hội thông tin phát triển vào năm 2000. Để thực hiện mục tiêu này, chính phủ Hàn Quốc thành lập “Quỹ thúc đẩy CNTT” do Bộ Thông tin và Truyền thông quản lý.
Tƣơng ứng, có hai cơ quan chỉ đạo và điều phối: Ban thúc đẩy tin học hóa và Ban đặc biệt về chính phủ điện tử thuộc ban đổi mới chính phủ của Tổng Thống. Chính nhờ những bƣớc đầu tƣ đó các nƣớc đã phát triển CNTT một cách có hiệu quả, họ đã thu đƣợc những thành tựu rất đáng kể trên các lĩnh vực nhƣ: Y tế, Giáo dục, Điện tử, các công nghệ về sinh học, tự động hóa. Tổng quan về hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học tại Việt Nam. Ở Việt Nam, cùng với sự phát triển về kinh tế, xã hội, giáo dục Việt Nam đang dần hoàn thiện phát triển và tiếp cận với thế giới.
Trong thời đại công nghệ 4.0, việc ứng dụng CNTT vào đổi mới giáo dục đang là xu thế tất yếu không thể đảo ngƣợc ở nhiều quốc gia trên thế giới. Và ở Việt Nam, ngành giáo dục cũng cần phải thay đổi tƣ duy, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ, tận dụng tối đa mọi nguồn lực xã hội để có thể “đi tắt, đón đầu” cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 trong tƣơng lai gần. Chính phủ đã phê duyệt Đề án “Tăng cƣờng ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và hỗ trợ các hoạt động dạy - học, nghiên cứu khoa học góp phần nâng cao chất lƣợng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2016 - 2020, định hƣớng đến năm 2025” theo Quyết định số 117/QĐ-TTg của Thủ tƣớng Chính phủ, nhằm đón đầu cuộc cách mạng 4.0 trong giáo dục. Từ phía Bộ GD&ĐT, những năm gần đây đã có các đề án, dự án nhằm nâng cao năng lực giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục cũng nhƣ tăng tính hiệu quả của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong nhà trƣờng.
Ớ Hƣớng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học hàng năm, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin luôn đƣợc nhấn mạnh. Nhờ vậy, trong những năm gần đây đã có những bƣớc tiến nhất định ở lĩnh vực ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục. e 9 Đối với giáo dục và đào tạo, Công nghệ thông tin là công cụ đắc lực hỗ trợ đổi mới phƣơng pháp giảng dạy, học tập và quản lý, góp phần nâng cao hiệu quả và chất lƣợng giáo dục. Tuy nhiên, làm thế nào đế việc ứng dụng CNTT đạt hiệu quả cao nhất trong quản lý giáo dục, bồi dƣỡng chuyên môn cho đội ngũ cán bộ, giáo viên đang là vấn đề đƣợc ngành giáo dục đặc biệt quan tâm.
Trình độ CNTT của cán bộ quản lý giáo dục, của giáo viên là một, nguyên nhân ảnh hƣởng trực tiếp đến việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy, ảnh hƣởng trực tiếp đến công cuộc thay đổi giáo dục căn bản toàn diện trong xu hƣớng toàn cầu hóa và hội nhập. Năm 1994 chủ trƣơng của Bộ GDĐT là đƣa công nghệ thông tin vào các nhà trƣờng với mục đích dạy học Tin học và làm phƣơng tiện dạy học các môn học khác. Cuộc Cách mạng khoa học kĩ thuật (KHKT) tiếp tục phát triển mạnh mẽ cùng với sự phát triển của nền kinh tế tri thức. Sự bùng nổ của Internet, của các sản phẩm phần mềm Tin học ứng dụng kéo theo sự phát triển của đời sống xã hội, làm thay đổi nhận thức của con ngƣời, đi vào mọi lĩnh vực, ngành nghề và trong đó có giáo dục và đào tạo.
Đƣợc các cấp, ngành từ phía Bộ chủ quản, các cơ quan hỗ trợ phát triển, nhu cầu trao đổi thông tin, học tập, quản lý ngày một đa dạng và là một xu thế của thế kỷ XXI. Tại cuộc họp “Tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị 58-CT/TW của Bộ Chính trị và triển khai Đề án đƣa Việt Nam sớm trở thành nƣớc mạnh về công nghệ thông tin và truyền thông” vào tháng 12/2010, Phó Thủ tƣớng Nguyễn Thiện Nhân khẳng định: “Công nghệ thông tin không chỉ là ngành công nghiệp dịch vụ phát triển với tốc độ cao, đóng góp lớn vào nguồn thu cho đất nước mà còn là động lực phát triển hạ tầng quan trọng cho sự phát triển kinh tế xã hội. Ngày nay không một ngành nào, lĩnh vực nào phát triển mà không dựa vào sự hỗ trợ của công nghệ thông tin và truyền thông”. Những năm gần đây đã có nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu đề tài ứng dụng CNTT trong quản lý và dạy học.
Nhiều hội nghị, hội thảo khoa học nghiên cứu về CNTT đã đƣợc tổ chức, qua các cuộc hội nghị, hội thảo không chỉ vấn đề ứng dụng CNTT đƣợc nói đến mà vấn đề quản lý ứng dụng CNTT trong giáo dục và khả năng áp dụng vào môi trƣờng Giáo dục và Đào tạo ở Việt Nam e 10 cũng đã đƣợc đề cập nhƣ: - Luận văn Thạc sĩ Giáo dục học của tác giả Võ Ngọc Vĩnh (2006): “Các biện pháp quản lý hoạt động dạy học tin học của HT trường THPT tỉnh Bình Định - Luận văn Thạc sĩ Giáo dục học của tác giả Phạm Duy Sơn (2014).