Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA HỌC VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG CẢNH SÁT NHÂN DÂN 1. Các khái niệm công cụ 1.1 Khái niện quản lý Quản lý là hoạt động đặc biệt, một dạng lao động xuất hiện rất sớm trong lịch sử, là hoạt động tất yếu nảy sinh khi có sự tham gia hoạt động của nhiều người, yếu tố không thể thiếu được trong đời sống xã hội, gắn liền với quá trình phát triển. Xã hội càng phát triển thì vai trò của quản lý càng quan trọng, đặc biệt trong xã hội phát triển như hiện nay. Có nhiều cách tiếp cận và quan niệm khác nhau về quản lý nhưng vẫn chưa có định nghĩa chung: Trong tác phẩm “Cơ sở khoa học quản lý”, nhà nghiên cứu Nguyễn Minh Đạo có viết: “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý hay tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng) quản lý về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế.
bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng”. Trong tập “Những bài giảng về quản lý trường học” tác giả Hà Sỹ Hồ cho rằng: “Quản lý là một hoạt động có định hướng, (có chủ đích) có tổ chức, lựa chọn trong các hoạt động có thể có, dựa trên thông tin tình trạng của đối tượng, môi trường nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định”. Trong “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” của hai tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ có nêu: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu. Quản lý là một hệ thống và là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định.
Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn”. Có nhiều cách hiểu khác nhau về quản lý, tuy nhiên có thể thống nhất: Quản lý là hệ thống những tác động có chủ định của chủ thể quản lý đến khách 8 Luan van thể quản lý, nhằm hướng dẫn, điều khiển các quá trình xã hội, các hành vi, hoạt động của con người để đạt tới những mục đích phù hợp với ý chí của nhà quản lý và phù hợp với quy luật khách quan. Bản chất Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý, nhằm thực hiện mục tiêu nhất định đã đề ra. Khái niệm hoạt động Theo A.
Lêônchiép: “hoạt động là quá trình thực hiện sự chuyển hóa lẫn nhau giữa hai cực “chủ thể - khách thể” (A. Nhà tâm lý học này cũng đề cập đến hai quá trình tâm lý cơ bản trong hoạt động: quá trình chuyển hóa của khách thể sang hình thức chủ quan, sang hình tượng; đồng thời, chuyển hóa tâm lý của chủ thể thành kết quả khách quan, thành sản phẩm của hoạt động. Krucheski đưa ra định nghĩa về hoạt động như sau: hoạt động là tính tích cực của con người nhằm đạt mục đích được đặt ra một cách có ý thức, để thỏa mãn nhu cầu và hứng thú và nhằm thực hiện đòi hỏi của xã hội và đất nước đối với họ (B. Theo nhà tâm lý học này, hoạt động là phương thức tồn tại của con người, không có hoạt động, thì không có cuộc sống con người.
Hoạt động gồm hai quá trình tâm lý, đồng thời là hai chức năng chính của hoạt động: quá trình tạo ra điều kiện vật chất và các sản phẩm tinh thần cho cuộc sống con người, trong đó, con người thay đổi hiện thực bên ngoài, biến đổi thế giới xung quanh và quá trình hình thành và biến đổi chính bản thân (ý chí, tính cách, năng lực…). Kruchexki cũng chỉ rõ một số đặc trưng của hoạt động của con người: thứ nhất, hoạt động của con người mang tính ý thức: con người biết được mục tiêu và phương thức đạt mục tiêu, hình dung được kết quả hoạt động. Thứ hai, hoạt động của con người gắn liền với việc chuẩn bị, việc sử dụng và bảo vệ dụng cụ lao động. Thứ ba, hoạt động của con người mang tính xã hội.
Theo nguyên tắc, nó được thực hiện trong tập thể và vì tập thể. Phạm Minh Hạc (2002) cho rằng, hoạt động là quá trình con người thực hiện các mối quan hệ giữa mình và thế giới bên ngoài, với người khác và với bản 9 Luan van thân. Trong quá trình đó, một mặt, tâm lý của con người (năng lực, ý chí, mong muốn, tính cách) được bộc lộ ra bên ngoài; mặt khác, các thuộc tính của đối tượng được chuyển vào thế giới nội tâm của con người, tạo nên tâm lý, nhân cách của họ. Theo Nguyễn Quang Uẩn và đồng sự (2007), hoạt động có hai quá trình tâm lý cơ bản: - Quá trình đối tượng hóa (quá trình xuất tâm), chủ thể chuyển năng lực và phẩm chất tâm lý của mình vào đối tượng, ghi dấu ấn của con người vào sản phẩm lao động.
Nhờ đó, tâm lý con người được bộc lộ, khách quan hóa trong quá trình tạo ra sản phẩm. Trong quá trình này có sự xuất hiện và thể hiện hình ảnh tâm lý của con người (chủ thể) trong khách thể (sản phẩm hoạt động). - Quá trình chủ thế hóa (còn gọi là quá trình nhập tâm): Thông qua các các hoạt động, con người tiếp thu lấy tri thức, đúc rút được kinh nghiệm, phản ánh những thuộc tính của đối tượng, phương tiện lao động, để làm giàu ý thức, tâm lý của bản thân mình. Trong quá trình này, con người khám phá, tiếp thu, lĩnh hội những đặc điểm của thế giới bên ngoài, rèn luyện những phẩm chất, năng lực, tích lũy kiến thức, kinh nghiệm cần thiết cho bản thân.
Từ đó, có thể đưa ra khái niệm hoạt động như sau: Hoạt động là quá trình con người tác động đến thế giới bên ngoài, đến người khác và với bản thân, xuất phát từ những động cơ nào đó, nhằm đạt mục đích được đặt ra một cách có ý thức, để thỏa mãn nhu cầu và hứng thú của bản thân và đáp ứng đòi hỏi của tổ chức, của xã hội đối với họ. Như vậy, hoạt động của con người có những đặc điểm như: - Được xuất phát từ những động cơ nào đó; - Có mục đích được đặt ra trước; - Gồm nhiều hành động làm thay đổi thế giới bên ngoài, thay đổi người khác và chính bản thân họ. Khái niệm hoạt động học tập Học theo nghĩa phổ thông là quá trình lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm, tạo ra sự thay đổi trong nhận thức, thái độ và hành vi của con người. Học có thể diễn ra 10 Luan van theo nhiều cách thức: thông qua trải nghiệm trong cuộc sống, qua thực hành, qua truyền nghề, quan sát, điều chỉnh, rút kinh nghiệm.
Trong khi đó, hoạt động học tập là hoạt động được thực hiện theo phương pháp nhà trường, được tổ chức bài bản theo những nội dung và phương pháp được xác định trước, với các thiết chế nhất định. Hoạt động học tập do người học thực hiện, dưới sự hướng dẫn của người dạy (người thầy), với mục đích lĩnh hội tri thức, khái niệm khoa học, cũng như hình thành những kỹ năng, kỹ xảo tương ứng, làm phát triển trí tuệ, năng lực, giúp con người giải quyết các nhiệm vụ do cuộc sống đặt ra. Có thể nói, hoạt động học là hoạt động do người học thực hiện một cách tự giác, dưới sự hướng dẫn của người dạy, nhằm lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mới, những hình thức hành vi và hoạt động mới, nhằm phát triển nhân cách của chính họ. Như vậy, hoạt động học tập là một hoạt động đặc thù của con người.
Hoạt động này hướng đến đối tượng là tri thức, hệ thống kỹ năng, kỹ xảo, phương thức hành vi và hoạt động mới, nhằm thay đổi bản thân người học. Hoạt động học tập của người học thường gắn liền với hoạt động giảng dạy của người thầy. Tuy nhiên, ở những thời điểm nhất định, hoạt động học của người học không chịu sự hướng dẫn trực tiếp của người thầy. Đó là hoạt động tự học.
Sự kết hợp giữa hoạt động tự học và hoạt động học theo phương thức nhà trường là hết sức cần thiết, nhằm làm cho hoạt động học tập đạt hiệu quả cao nhất. Vậy hoạt động tự học là gì? 1. Khái niệm hoạt động tự học Tác giả Thái Duy Tuyên trong tác phẩm: Dạy tự học cho sinh viên trong các nhà trường trung học chuyên nghiệp và Cao đẳng, Đại học viết “Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) cùng các phẩm chất động cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử, xã hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân người học”. 11 Luan van Tác giả Lê Khánh Bằng cho rằng tự học là việc bản thân người học phải huy động các năng lực phẩm chất trí tuệ của mình chiếm lĩnh những tri thức khoa học và biến những tri thức đó thành vốn kinh nghiệm của bản thân, theo tác giả: "Tự học là tự mình suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và phẩm chất tâm lý để chiếm lĩnh một lĩnh vực khoa học nhất định".
Tác giả Nguyễn Cảnh Toàn lại cho rằng: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và có cả cơ bắp cùng các phẩm chất của mình, cả động cơ tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình”. Theo tác giả Nguyễn Văn Đạo: "Tự học là công việc tự giác của mỗi người do nhận thức được đúng đắn vai trò quyết định của nó đến sự tích lũy kiến thức cho bản thân, cho chất lượng công việc mình đảm nhiệm, cho sự tiến bộ xã hội". Tự học luôn đi cùng gắn bó chặt chẽ với khái niệm tự thân. Tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng của mỗi cá nhân chỉ được hình thành bền vững và phát huy hiệu quả thông qua các hoạt động tự thân ấy.
Để có được, đạt tới hoàn thiện thì mỗi học sinh, sinh viên phải tự thân tiếp nhận tri thức từ nhiều nguồn, tự thân rèn luyện các kỹ năng, tự thân bồi dưỡng tâm hồn của mình ở mọi nơi, mọi lúc.