đặt vấn đề thực hiện học chế mô đun hóa triệt để. Vào năm 1993, khi những khó khăn chung của đất nước và của các trường đại học dịu bớt, Bộ GD & ĐT chủ trương tiến thêm một bước, thực hiện học chế học phần triệt để hơn, theo mô hình học chế tín chỉ của Mỹ. Năm 1993 Trường Đại học Bách Khoa thành phố Hồ Chí Minh là nơi đầu tiên áp dụng học chế tín chỉ. Sau đó lần lượt các trường đại học khác như: Đại học Đà Lạt, Cần Thơ, Thuỷ sản Nha Trang (niên khóa 1994-1995), một khoa của trường Đại học Xây dựng Hà Nội, trường Đại học Dân lập Thăng Long cũng áp dụng học chế này trong quá trình đào tạo.
Hiện nay thì hầu hết các trường đại học đã áp dụng học chế tín chỉ với các sắc thái khác nhau, và đem lại hiệu quả cao trong công tác GD & ĐT. 8 Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.vn/ Nhằm tăng tính liên thông của hệ thống giáo dục đại học nước ta và hội nhập với giáo dục đại học thế giới, trong mấy năm gần đây Nhà nước đã đưa ra chủ trương mở rộng áp dụng học chế tín chỉ trong hệ thống giáo dục đại học nước ta. Trong “Quy hoạch mạng lưới trường đại học, cao đẳng giai đoạn 2001 - 2010” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo quyết định 47/2001/QĐ-TTg có nêu: các trường cần “thực hiện quy trình đào tạo linh hoạt, từng bước chuyển việc tổ chức quy trình đào tạo theo niên chế sang học chế tín chỉ”[26]. Trong “Báo cáo về tình hình giáo dục” của Chính phủ trước kỳ họp quốc hội tháng 10 năm 2004 lại khẳng định mạnh mẽ hơn: “Chỉ đạo đẩy nhanh việc mở rộng học chế tín chỉ ở các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề ngay từ năm học 2005 - 2006, phấn đấu đến năm 2010 hầu hết các trường đại học, cao đẳng đều áp dụng hình thức tổ chức đào tạo này”[7].
Một số khái niệm công cụ của đề tài 1. Quản lý Trong quá trình hình thành và phát triển của mình, con người muốn tồn tại và phát triển phải có sự phối hợp, thống nhất với nhau trong cùng một nhóm, một tổ chức. Để tổ chức, điều khiển tạo nên sự phối hợp của nhóm người trong hoạt động theo yêu cầu nhất định thì cần phải có một người lãnh đạo, quản lý tổ chức đó. Như vậy, quản lý là một loại hình lao động của con người trong cộng đồng nhằm thực hiện các mục tiêu mà tổ chức, hoặc xã hội đã đặt ra.
Quản lý là một hoạt động đặc biệt bao trùm lên các mặt của đời sống xã hội, là nhân tố không thể thiếu được trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Có nhiều cách tiếp cận khác nhau, ở mỗi cách tiếp cận thì có nhiều định nghĩa khác nhau. Quản lý là một hoạt động thiết yếu nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Mục tiêu của các nhà quản lý nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt tới mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất, với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức có tổ chức về quản lý là một khoa học.
9 Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.vn/ - Theo Đại Bách khoa toàn thư Liên Xô, 1977: Quản lý là chức năng của hệ thống có tổ chức với bản chất khác nhau (xã hội, sinh vật, kỹ thuật), nó bảo toàn cấu trúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động, thực hiện những chương trình, mục đích hoạt động” [30].Mác, quản lý xã hội (QLXH) là chức năng được sinh ra từ tính xã hội hóa lao động. Nó có tầm quan trọng đặc biệt vì mọi sự phát triển của xã hội đều thông qua hoạt động của con người và thông qua quản lý (con người điều khiển con người). Người đã viết “Tất cả mọi lao động trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”[6].
Trong cuốn „„Quản lý nhân lực”, Pau Hersey và Ken Blane Heard lại coi „„Quản lý là một quá trình cùng làm việc giữa nhà quản lý và người bị quản lý nhằm thông qua hoạt động của cá nhân, của nhóm, huy động các nguồn lực khác để đạt mục tiêu của tổ chức” [19]. Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt coi: „„Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định” [17]. Tác giả Mai Hữu Khuê lại cho rằng: „„Hoạt động quản lý là một dạng hoạt động đặc biệt của người lãnh đạo mang tính tổng hợp các loại lao động trí óc, liên kết với bộ máy quản lý, hình thành một chỉnh thể thống nhất điều hòa phối hợp các khâu và các cấp quản lý, làm sao cho hoạt động nhịp nhàng, đi đến hiệu quả” [13]. Quá trình „„Quản lý GD & ĐT” của trường cán bộ quản lý GD & ĐT có nêu [29]: 10 Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.vn/ - Quản lý là tác động vừa có tính khoa học, vừa có tính nghệ thuật vào hệ thống con người nhằm đạt các mục tiêu kinh tế - xã hội.
- Quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có tổ chức dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng ổn định và phát triển đến mục tiêu đã định. - Quản lý là sự tác động có ý thức, hợp quy luật giữa chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt đến các mục tiêu đã đề ra. - Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hương đích của chủ thể quản lý là đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến đổi của môi trường. Các định nghĩa trên tuy khác nhau, nhưng có một số điểm chung trong nhận thức về quản lý như sau: - Quản lý là hoạt động lao động điều khiển các hoạt động khác nhau của nhóm hay tập thể.
- Trong hoạt động quản lý bao giờ cũng có chủ thể quản lý, đối tượng quản lý quan hệ với nhau bằng những tác động quản lý. Tác động quản lý chính là những quyết định quản lý, là những nội dung của chủ thể quản lý yêu cầu đối với đối tượng quản lý. - Quản lý là một thuộc tính bất biến nội tại của một quá trình lao động xã hội. Lao động quản lý là điều kiện tiên quyết làm cho xã hội loài người tồn tại và phát triển.
- Quản lý là một hệ thống xã hội trên nhiều phương tiện. Quản lý có một cấu trúc và vận hành trong một môi trường nhất định. Trong cấu trúc đó, ba thành tố: mục tiêu, chủ thể, khách thể quan hệ chặt chẽ với nhau tạo nên hoạt động của bộ máy. Trên cơ sở tìm hiểu một số khái niệm về quản lý, chúng tôi cho rằng: „„Quản lý là hoạt động có ý thức của chủ thể quản lý nhằm điều khiển, tác động lên đối tượng, khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý”.
11 Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.vn/ Toàn bộ hoạt động quản lý đều được thực hiện thông qua các chức năng quản lý. Nếu không xác định được các chức năng quản lý thì chủ thể quản lý không thể điều hành được hệ thống quản lý. Quản lý giáo dục 1. Khái niệm quản lý giáo dục Quản lý giáo dục được hiểu theo hai cấp độ khác nhau.
Cấp độ vĩ mô và cấp độ vi mô. - Đối với cấp vĩ mô: quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (Có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (Từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển GD & ĐT thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục. Cũng có thể định nghĩa quản lý giáo dục là hoạt động tự giác của chủ thể nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát… một cách có hiệu quả các nguồn lực giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội. - Đối với cấp vi mô: quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (Có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu GDĐT của nhà trường.
Cũng có thể định nghĩa: quản lý giáo dục thực chất là những tác động của chủ thể quản lý vào quá trình giáo dục (Được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học sinh, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường. Từ những khái niệm nêu trên, dù ở cấp vĩ mô hay vi mô, ta có thể thấy rõ bốn yếu tố của quản lý giáo dục. Đó là: chủ thể quản lý, đối tượng quản lý (nói tắt là đối tượng quản lý), khách thể quản lý và mục tiêu quản lý. Trong thực tiễn các yếu tố trên không tách rời nhau, mà ngược lại chúng có quan hệ tương 12 Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.vn/ tác gắn bó với nhau.
Chủ thể quản lý tạo ra những tác động lên đối tượng quản lý, nơi tiếp nhận tác động của chủ thể quản lý và cùng với chủ thể quản lý hoạt động theo một quỹ đạo nhằm cùng thực hiện một mục tiêu của tổ chức. Khách thể quản lý nằm ngoài hệ thống quản lý giáo dục, nó là hệ thống khác hoặc các ràng buộc của môi trường… Nó có thể chịu tác động hoặc tác động trở lại đến hệ thống giáo dục và quản lý giáo dục.