phần mở đầu, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo và phần kết luận, luận văn gồm có 4 chương: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh thương mại điện tử. Chƣơng 2: Phương pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh thương mại điện tử tại Việt Nam. Chƣơng 4: Phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh thương mại điện tử tại Việt Nam 3 CHƢƠNG 1.
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THƢƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Việc quản lý thuế đối với hoạt động thương mại điện tử luôn thu hút sự quan tâm của các cơ quan thuế trên thế giới. Như vậy, đã có nhiều nghiên cứu và công bố kết quả về quản lý thuế đối với hoạt động thương mại điện tử từ các góc độ khác nhau. Do quản lý thuế thương mại điện tử là một bộ phận trong hoạt động quản lý thuế của cơ quan thuế nên khi xem xét quản lý thuế thương mại điện tử, nhiều khía cạnh quản lý liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của cơ quan thuế sẽ được thực hiện.
nhiệm vụ được giao. Cho đến nay, nhiều loại tài liệu nghiên cứu như bài báo, đề tài nghiên cứu, báo cáo, bài báo, chuyên đề, giáo trình, sách tham khảo đã được xuất bản của các tác giả trong và ngoài nước về quản lý thuế đối với hoạt động thương mại điện tử. Để giúp ích cho việc nghiên cứu và tìm ra những lỗ hổng trong luận văn của mình, tác giả đã phân tích một số bài báo nghiên cứu tiêu biểu như: 1.1 Các công trình nghiên cứu tại nước ngoài Trên thế giới, vấn đề quản lý thuế đối với hoạt động TMĐT được coi là vấn đề thời sự của các quốc gia và thường xuyên được đưa ra thảo luận, trao đổi kinh nghiệm tại các diễn đàn kinh tế quốc tế và khu vực (OECD, SGATAR…). Ủy ban Tài chính của OECD đã có báo cáo với chủ đề “Electronic Commerce: Taxation Framework Condition” tại Hội nghị Bộ trưởng các nước OECD về TMĐT năm 1998.
Đây được coi là một báo cáo quan trọng, đề ra các nguyên tắc chung đối với việc đánh thuế TMĐT trên thế giới, các nước tham gia có thể dựa trên những nguyên tắc này để xây dựng chính sách thuế và quản lý thuế TMĐT tại nước mình. Tại các quốc gia có hoạt động TMĐT phát triển mạnh cả về tốc độ và quy mô như Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu (EU), Trung Quốc… cơ quan thuế, các nhà nghiên cứu kinh tế và các tổ chức, cá nhân khác cũng đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu trong công tác quản lý thuế TMĐT, tiêu biểu có thể kể đến như: 4 Nghiên cứu với tựa đề “Taxation and electronic commerce- implementing the Ottawa taxation framework conditions”- Thuế và thương mại điện tử - thực hiện các điều kiện khung thuế Ottawa, OECD (2001) phản ánh diễn tiến của việc thực thi các Điều kiện Khuôn khổ chung về Thuế đã được thống nhất tại Ottawa 1998. Điều kiện Khuôn khổ chung về Thuế Ottawa nêu ra một số nguyên tắc định hướng các Chính phủ trong cách tiếp cận về TMĐT. Điều kiện Khuôn khổ chung nhấn mạnh TMĐT phải được đối xử tương tự như với thương mại truyền thống, tránh phân biệt đối xử.
Khuôn khổ chung này được các nước thành viên OECD, các nước không phải là thành viên OECD rất hưởng ứng. Trong tài liệu này nhóm nghiên cứu đã đề cập đến các vấn đề liên quan đến TMĐT bao gồm thuế quốc tế, thuế tiêu dùng, quản lý thuế, trong đó đặc biệt nhấn mạnh dịch vụ hỗ trợ NNT. Công tác quản lý thuế đối với TMĐT được tập trung vào các nội dung: dịch vụ hỗ trợ NNT, xác định được đối tượng nộp thuế và những thông tin cần thiết phục vụ quản lý thuế, cuối cùng là thu thuế và kiểm soát nợ thuế. Trong dịch vụ hỗ trợ NNT cơ quan thuế cần sử dụng các công nghệ và các thành tựu khoa học công nghệ để nâng cao chất lượng phục vụ NNT.
Công tác quản lý cần chú trọng đến vấn đề tìm kiếm thông tin và xác minh thông tin NNT. Đối với công tác thu nợ, cơ quan thuế cần đảm bảo hệ thống thu nợ và kiểm soát thu nợ thích hợp. Nghiên cứu khác của OECD với tựa đề “Tax administration aspects of electronic commerce: responding to the challenges and opportunities”- Các khía cạnh quản lý thuế của thương mại điện tử: ứng phó với những thách thức và cơ hội (2001) đã xây dựng được các yếu tố khung về quản lý thuế đối với hoạt động TMĐT bao gồm: dịch vụ NNT, vấn đề nhận dạng và nhu cầu thông tin, thu và kiểm soát thuế. Dịch vụ NNT cần được phát triển theo hướng cải cách để đơn giản hóa hệ thống thuế nhằm giảm thiểu chi phí tuân thủ thuế, đặc biệt đối với hệ thống doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Công tác quản lý thuế đối với TMĐT cần chú trọng đến nhận dạng doanh nghiệp. Tài liệu nghiên cứu nhấn mạnh tập trung đến quản lý chữ ký số- đây là bằng chứng nhận dạng được chấp nhận trong các vấn đề về thuế quốc tế đối với hoạt động TMĐT. Đối với việc kiểm soát thuế cần phải hướng đến việc thiết kế các chiến lược và biện pháp thích hợp để cải thiện việc tuân thủ thuế liên quan đến 5 các giao dịch TMĐT theo hướng tuân thủ tự nguyện. Báo cáo cũng đã chỉ ra rằng công tác quản lý thuế cần phải được đặt trong sự tương quan về công nghệ và các mô hình kinh doanh TMĐT thì mới có thể khai thác và giải quyết được các thách thức về thuế đối với hoạt động TMĐT.
Dale Pinto(1999), “Taxation issue in a world of e-commerce, Jounal of Australian Taxation” - Vấn đề thuế trong thế giới thương mại điện tử : Tác giả nghiên cứu xem xét sự tác động của TMĐT lên hệ thống quản lý thuế của Úc. Nghiên cứu nhấn mạnh rằng TMĐT đặt ra nhiều thách thức cho các quản trị viên thuế nhưng đồng thời cũng có thể tạo cho họ các cơ hội nhất định. Với kết cấu làm bốn phần khác nhau trình bày các vấn đề về thách thức, cơ hội, giải pháp và kết luận, bài viết đã cho thấy được cái nhìn tổng quan về các vấn đề về thuế trong thế giới TMĐT giúp cho cơ quan thuế Úc có thể ứng phó với những thách thức do TMĐT đặt ra. United Nations (2001), “Electronic commerce and Challenge for Tax administration”- Thương mại điện tử và thách thức đối với quản lý thuế : Đây là tài liệu của giáo sư Walter Hellerstein thuộc Đại học Luật Georgia chuẩn bị để tư vấn cho Bộ phận kinh tế và xã hội của Liên hiệp quốc.
Tài liệu cung cấp tổng quan các vấn đề được nêu ra khi đánh thuế đối với TMĐT và các sáng kiến hiện đang được áp dụng để giải quyết các vấn đề đó. Phần một tác đã mô tả nền công nghệ và tổng quan về TMĐT, trên cơ sở đó tác giả đặt ra những vấn đề có thể tồn tại do sự phát triển của TMĐT tác động đến công tác quản lý thuế. Phần hai của tài liệu tác giả đã đưa ra những thách thức của TMĐT tác động đến hệ thống thuế thu nhập. Phần ba của tài liệu đề cập đến những thách thức chính được đưa ra bởi TMĐT cho các chế độ thuế tiêu dùng.
Tác giả cho rằng những tác động của TMĐT đến công tác quản lý thuế là rất lớn và ngay khi nếu có thể giải quyết được, các vấn đề kỹ thuật do TMĐT đặt ra vẫn còn những nội dung liên quan đến chính trị rất khó giải quyết. Tuy nhiên, tác giả vẫn hy vọng rằng những nỗ lực đáng kể của OECD và các chính phủ sẽ có thể xây dựng được một chế độ đánh thuế hiệu quả ngay cả khi không hoàn toàn trong một thế giới TMĐT toàn phần. Niall Campbell (2014), Tax policy and Administration in an Era of Big Data, - Chính sách thuế và Quản lý trong Kỷ nguyên Dữ liệu Lớn : Bài viết đã đề cập đến 6 vấn đề sử dụng phân tích dữ liệu lớn để giảm thiểu thất thu thuế, đồng thời thu thập và chia sẻ thông tin qua biên giới và tăng cường sự hoạt động của cơ quan thuế ngày càng hiệu quả hơn. Trong bài viết tác giả nhận định rằng nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang bắt đầu hướng đến việc tận dụng các dữ liệu và phân tích dữ liệu lớn nhằm nâng cao hiệu quả phát hiện các bất thường và gian lận trong quản lý thuế.
Sự tự động hóa và yếu tố hỗ trợ của các công nghệ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quản lý thuế. Trong bài viết tác giả đưa ra một số ví dụ minh họa ở nhiều quốc gia như Singapore, Australia, Hà Lan đã rất chú trọng đến vấn đề cải thiện hệ thống người nộp thuế theo hướng đảm bảo các thông tin NNT cung cấp cho cơ quan thuế phải chính xác và có tính cập nhật. Cơ quan thuế thay vì dành thời gian cho các vụ việc thanh tra, kiểm tra, xu hướng hiện nay đã chuyển dịch theo hướng khuyến khích NNT thường xuyên đánh giá, kiểm soát các hoạt động của họ để báo cáo với cơ quan thuế và đồng thời gửi các điều chỉnh đến cơ quan thuế nếu tồn tại lỗi trong giao dịch. Các thông tin này sẽ giúp cơ quan thuế cải thiện được hiệu quả hoạt động nội bộ qua việc phân tích và xử lý thông tin từ dữ liệu lớn trong quản lý thuế.
Kham Tipmart (2015), “International Taxation of Electronic Commerce”- Thuế quốc tế đối với thương mại điện tử, luận án tiến sỹ thực hiện tại trường Niigata University: Luận án tập trung nghiên cứu về thuế quốc tế đối với thương mại điện tử trên hai khía cạnh thuế thu nhập và thuế tiêu dùng trong TMĐT. Các vấn đề đánh thuế đối với giao dịch xuyên biên giới liên quan đến cơ sở thường trú được tác giả phân tích rất sâu sắc làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp xử lý các vấn đề thuế quốc tế đối với TMĐT. WorldBank Group (2018), “Malaysia’s Digital Economy- A new driver of development” - Nền kinh tế kỹ thuật số của Malaysia- Một động lực phát triển mới: Đây là một tài liệu của WorldBank về nền kinh tế số của Malaysia. Với kết cấu làm 6 chương, trong tài liệu có chương 5 được đề cập phản ánh về thuế trong nền kinh tế số.