phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc chia thành 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở khoa họcvề thuế Thu nhập cá nhân và quản lý thuế Thu nhập cá nhân. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng công tác quản lý thuế TNCN trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên Chƣơng 4: Định hƣớng và giải pháp hoàn thiện quản lý thuế TNCN tại tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2015 -2020. 4 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌCVỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN VÀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu liên quan đến đề tài 1.
Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước Thuế là công cụ quan trọng của nhà nƣớc, góp phần quản lý, điều tiết, ổn định kinh tế vĩ mô, là nguồn thu chủ yếu của NSNN, phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội, góp phần đảm bảo công bằng xã hội. Do vậy đây là lĩnh vực mà các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam luôn quan tâm nghiên cứu về cả lý thuyết và thực tiễn triển khai hoàn thiện chính sách Thuế và quản lý Thuế. Joseph J Cordes trong cuốn sách “ The encyclopedia of taxation and tax policy” xuất bản năm 2010, NXB Washington D.C Urban Institute Press trang 196- đã viết về các loại thuế nói chung và phần thuế TNCN tác giả phân tích rất chi tiết về sự khác biệt giữu thuế thu nhập toàn bộ và thuế thu nhập riêng biệt. Trong đó thuế thu nhập toàn bộ là cộng tất cả các nguồn thu nhập lại trong khi thuế thu nhập riêng biệt có thuế riêng cho từng nguồn thu nhập khác nhau.
Nhìn chung, thuế thu nhập toàn bộ thƣờng đƣợc áp dụng ở các nƣớc công nghiệp phát triển còn thuế thu nhập riêng biệt thƣờng đƣợc áp dụng ở các nƣớc đang phát triển. Về mặt hình thức, thì nhiều nƣớc đang phát triển đã lựa chọn hệ thống thuế thu nhập toàn bộ nhƣng lại đƣợc quản lý giống nhƣ hệ thống thuế riêng biệt. Chúng ta có thể nghiên cứu tài liệu này để có đƣợc tổng quan về hệ thống thuế nói chung và thuế thu nhập cá nhân nói riêng của các quốc gia trên thế giới. Shackelford (2011), “Research in accounting for income taxes”, Journal of Accounting and Economics: Bài báo nghiên cứu về AFIT (Accounting for Income Taxes - Quyết toán thuế thu nhập) với việc chỉ ra 4 khía cạnh và các quy tắc của AFIT, sau đó giới thiệu tổng quan các nghiên cứu đã có và đề xuất một số gợi ý cho các nghiên cứu trong tƣơng lai.
Bài nghiên cứu nhấn mạnh một số vấn đề nghiên cứu đã đƣợc giải quyết liên quan đến 5 z việc quyết toán thuế thu nhập để quản lý các khoản thu nhập và xem các khoản thuế đƣợc định giá bởi những ngƣời tham gia thị trƣờng chứng khoán. Trong cuốn ”PCI 2013 The Vietnam Provincial competitiveness index 2013” trang 24-31 chỉ ra sự tuân thủ thuế còn yếu, chỉ với 3% dân số lao động phi nông nghiệp đóng thuế thu nhập cá nhân và rất ít cá nhân đóng thuế suất ở mức thuế suất biên cao nhất. Sự chênh lệch trong biểu thuế TNCN (35%) và thuế thu nhập doanh nghiệp 2% tạo ra động cơ khuyến khích NNT chọn hình thức công ty để làm kinh doanh. Từ báo cáo trên ta có thể tham khảo để kiến nghị cho Chính phủ xây dựng kế hoạch trung hạn, đơn giản hóa thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng và xem xét lại toàn diện hệ thống thuế TNCN sẽ giúp đẩy mạnh số thu cho NSNN.
Samwick (2014),” Effects of Income Tax Changes on Economic Growth, Economic Studies at Brookings”: Bài viết này nghiên cứu những ảnh hƣởng do thay đổi thuế thu nhập cá nhân đối với tăng trƣởng kinh tế trong dài hạn. Cắt giảm thuế suất có thể khuyến khích các cá nhân làm việc, tiết kiệm, đầu tƣ, nhƣng nếu việc cắt giảm thuế không đƣợc bảo trợ bởi cắt giảm chi tiêu thì chúng có thể làm cho thâm hụt ngân sách liên bang tăng lên, mà về lâu dài sẽ làm giảm tiết kiệm quốc gia và nâng cao lãi suất. Tác động ròng lên tăng trƣởng là không chắc chắn, nhƣng nhiều ngƣời ƣớc tính rằng những tác động đó nhỏ hoặc là tác động tiêu cực. Các biện pháp mở rộng có thể loại bỏ các tác động của việc cắt giảm thuế suất về thâm hụt ngân sách, nhƣng đồng thời cũng giảm tác động đến cung lao động, tiết kiệm, đầu tƣ và do đó làm giảm các tác động trực tiếp đến tăng trƣởng.
Tuy nhiên, chúng cũng tái phân bổ nguồn lực giữa các ngành theo mục tiêu kinh tế cao nhất, dẫn đến tăng hiệu quả và có khả năng tăng kích thƣớc tổng thể của nền kinh tế. Kết quả cho thấy không phải tất cả những thay đổi thuế sẽ có tác động tƣơng tự đối với tăng trƣởng. Cải cách nhằm cải thiện các ƣu đãi, giảm trợ cấp hiện có, tránh tăng vận may bất ngờ, và tránh thâm hụt tài chính sẽ có ảnh hƣởng tốt hơn đối với nền kinh tế trong dài hạn, nhƣng cũng có thể tạo ra sự đánh đổi giữa công bằng và hiệu quả. 6 z Theo Roger Gordon (2005) trong cuốn “Tax Structures in Developing Countries: Many Puzzles and a Possible Explaination” thì doanh thu thuế TNCN hiện nay ƣớc chừng chỉ chiếm khoảng 3% ngân sách nhà nƣớc, trong khi con số này ở các nƣớc đang phát triển có mức thu nhập bình quân đầu ngƣời tƣơng tự nhƣ ta là khoảng 16-17%, doanh thu thuế TNCN của ta phụ thuộc rất nhiều vào ngƣời nƣớc ngoài: khoảng 45.000 ngƣời nƣớc ngoài đang sống và làm việc ở Việt Nam đóng góp tới hơn 2/3 doanh thu thuế TNCN.
Cuốn sách này cũng chỉ ra là có khoảng 160.000 công dân Việt Nam đang đóng thuế (tức khoảng 0,2% dân số và 0,4% lực lƣợng lao động). Có thể thấy rằng phần lớn những công dân Việt Nam đóng thuế hiện nay là những ngƣời làm việc cho tác cơ quan có yếu tố nƣớc ngoài, nơi bảng lƣơng rất rõ ràng minh bạch và nơi có tinh thần tuân thủ luật pháp tốt hơn.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước Ở Việt Nam, cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến quản lý Thuế nói chung và Thuế TNCN nói riêng. Các công trình này nghiên cứu dƣới nhiều góc độ khác nhau. Sau đây là một số công trình tiêu biểu liên quan đến đề tài mà tôi đã có dịp tiếp cận, nghiên cứu.
Đỗ Tuyết Minh (2009) “Thanh tra , kiểm tra Thuế Thu nhập cá nhân ở chi cục Thuế quận Ba Đình”, Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ Quản Lý kinh tế, bảo vệ năm 2009 tại trƣờng Học Viện Chính Trị Hành Chính Quốc gia Hồ Chí Minh. Trên cơ sở nghiên cứu và tổng kết hoạt động quản lý thu thuế TNCN ở chi cục Thuế Quận Ba Đình - Hà Nội, tác giả đã phân tích những tồn tại, hạn chế, bất cập trong công tác quản lý thuế TNCN đối với ngƣời có thu nhập từ tiền lƣơng, tiền công với trên địa bàn. Từ công tác xử lý thông tin và tiếp nhận hồ sơ cấp MST còn chƣa kịp thời và chƣa chính xác. Trong luận văn tác giả đã đƣa ra nhiều giải pháp nhằm hạn chế tình trạng này.
Nguyễn Thị Mỹ Linh (2011), “Thuế thu nhập cá nhân đối với chuyển nhượng bất động sản: Thực trạng và giải pháp”, Tạp chí Thƣơng mại, số 15/2011, Hà Nội: Nhà nƣớc sử dụng thuế làm công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế, điều hòa thu nhập, thực hiện công bằng xã hội và là công cụ chủ yếu huy động nguồn lực vật 7 z chất cho nhà nƣớc. Đối với thị trƣờng bất động sản ở Việt Nam, một thị trƣờng còn non trẻ, phát triển chƣa đồng đều, hiện tƣợng “sốt giá”, “đóng băng” thƣờng xuyên xảy ra có tính chất chu kỳ, tạo ra nhiều rủi ro tiềm ẩn cho thị trƣờng bất động sản nói riêng, nền kinh tế nói chung. Vì vậy, hoàn thiện chính sách thuế thu nhập cá nhân đối với chuyển nhƣợng bất động sản trong giai đoạn hiện nay là thực hiện quản lý và điều tiết của nhà nƣớc đối với thị trƣờng bất động sản, tạo tiền đề quan trọng cho thị trƣờng bất động sản phát triển bền vững. Vì lý do đó, bài nghiên cứu này nhằm mục tiêu chính là hoàn thiện chính sách thuế thu nhập cá nhân đối với chuyển nhƣợng bất động sản nhằm phát triển thị trƣờng bất động sản Việt Nam lành mạnh, bền vững, đồng thời tăng thu ngân sách nhà nƣớc.
Để đạt đƣợc mục tiêu nêu trên, tác giả đã tập trung hƣớng đến các mục tiêu cụ thể nhƣ: cơ sở thu thuế thu nhập từ chuyển nhƣợng bất động sản; đánh giá chính sách thuế thu nhập cá nhân đối với chuyển nhƣợng bất động sản hiện nay; đƣa ra giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách thuế thu nhập cá nhân đối với chuyển nhƣợng bất động sản trên cơ sở có nghiên cứu và chọn lọc kinh nghiệm thu thuế của các nƣớc. Nguyễn Thị Nụ (2013), “ Giải pháp tăng cường công tác quản lý thuế Thu nhập cá nhân trên địa bàn huyện Tiên Du - tỉnh Bắc Ninh”, Luận văn thạc sỹ kinh tế, năm 2013 tại trƣờng Đại học Nông nghiệp Hà Nội. Trong luận văn của mình, tác giả đã phân tích thực trạng và tồn tại tại trong công tác quản lý Thuế TNCN tại chi cục Thuế huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh. Theo tác giả muốn thực hiện tốt công tác quản lý thu thuế cần sự kết hợp chặt chẽ giữa cơ quan thuế với các cơ quan chức năng khác.
Sự hỗ trợ của sở kế hoạch - Đầu tƣ, sở công an, sở lao động - thƣơng binh xã hội và các sở khác trong việc quản lý vi phạm là điều hết sức cần thiết. Việc này sẽ hỗ trợ rất lớn cho Chi cục thuế huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh. Lƣơng Quang Phát (2014), “Tăng cường quản lý Thuế TNCN trên địa bàn tỉnh Phú Thọ,” Luận văn thạc sỹ Quản lý kinh tế, bảo vệ năm 2014 tại trƣờng Đại học Kinh tế và quản Trị Kinh Doanh - Đại học Thái Nguyên. Trên cơ sở hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về sắc thuế TNCN và nghiên cứu thực trạng quản lý thuế TNCN tại cục Thuế tỉnh Phú Thọ.
Luận văn đã đánh giá thực trạng, kết quả 8 z và hạn chế trong công tác quản lý Thuế TNCN tại cục Thuế Tỉnh Phú Thọ trong thời gian từ 2009-2014 đặc biệt là công tác tuyên truyền và hỗ trợ ngƣời nộp thuế chƣa đạt hiệu quả cao. Giải pháp tác giả đƣa ra là cần tập trung vào công tác tuyên truyền và nâng cao nhận thức của ngƣời dân về thuế Thu nhập cá nhân.