CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH 1. Các khái niệm cơ bản liên quan đến quản lý thu thuế đố i với hô ̣ kinh doanh 1. Các khái niê ̣m liên quan - Khái niệm thuế Nhà kinh tế học Gaston Jeze (1998) đã đưa ra một định nghĩa cổ điển nhất về. thuế như sau: “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho Nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà nước”.
[15] Đứng trên mỗi góc độ khác nhau, các nhà kinh tế lại có một khái niệm khác nhau về thuế, khái niệm này đã được bổ sung, chỉnh sửa và hoàn thiện như sau: “Thuế là một khoản đóng góp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho Nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà nước trong việc thực hiện các chức năng kinh tế-xã hội của Nhà nước.” [8] Còn theo Luật quản lý thuế số 38/2019/QH14 ngày 13/6/2019, Thuế được định nghĩa là: “một khoản nộp NSNN bắt buộc của tổ chức, hộ gia đình, HKD, cá nhân theo quy định của các luật thuế”. Từ những định nghĩa trên ta có thể thấy được vai trò quan trọng của thuế trong việc điều tiết nền kinh tế và trong đời sống xã hội, giúp tăng thu nhập vào NSNN, là nguồn lực để xây dựng cơ sở vật chất, hạ tầng công cộng, phục vụ cho đời sống nhân dân. - Khái niệm HKD, CNKD Theo điều 3 thông tư 40/2021/TT-BTC ngày 01/6/2021 hướng dẫn thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân và quản lý thu thuế đối với HKD, CNKD: HKD là: “cơ sở sản xuất, kinh doanh do một cá nhân hoặc các thành viên hộ gia đình đăng ký thành lập và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh của hộ theo quy định tại Điều 79 Nghị định số 01/2021/NĐ-CP ngày 04/01/2021 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp và các 6 văn bản hướng dẫn hoặc sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế (nếu có), Trường hợp các thành viên của hộ gia đình đăng ký HKD thì ủy quyền cho một thành viên làm đại diện HKD. Cá nhân đăng ký HKD, người được các thành viên hộ gia đình ủy quyền làm đại diện HKD là chủ HKD.
Hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, kinh doanh thời vụ, làm dịch vụ có thu nhập thấp không phải đăng ký HKD, trừ trường hợp kinh doanh các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định mức thu nhập thấp áp dụng trên phạm vi địa phương. Quản lý thu thuế đối với HKD Nhà lý luận tổ chức Harold Koontz (1992) định nghĩa về quản lý: “Quản lý là một nghệ thuật nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra thông qua việc điều khiển, chỉ huy, phối hợp, hướng dẫn hoạt động của những người khác”. Ở Việt Nam, tác giả Vũ Dũng (2006) cho rằng: “Quản lý là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống thông tin của chủ thể đến khách thể của nó.” Phan Huy Đường (2015) định nghĩa QLNN là: “Quản lý nhà nước là một dạng quản lý do nhà nước làm chủ thể, định hướng điều hành, chi phối… để đạt được mục tiêu kinh tế - xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định. Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội bằng quyền lực nhà nước, ý chí nhà nước, thông qua bộ máy nhà nước làm thành hệ thống tổ chức điều khiển quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người để đạt được mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định, theo những thời gian nhất định với hiệu quả cao.” Theo Sử Đình Thành (2009) quản lý thu thuế được khái niệm như sau: “Quản lý thu thuế là những biện pháp nghiệp vụ do cơ quan có chức năng thu NSNN thực hiện… Đó là những hoạt động thường xuyên của cơ quan thu hướng về phía đối tượng nộp nhằm đảm bảo thu thuế đầy đủ, kịp thời và đúng luật định.” Từ những khái niệm trên ta có thể thấy “quản lý là sự tác động của một chủ thể lên một đối tượng, một mục tiêu nhất định.
Từ đó ta hiểu quản lý thu thuế là 7 việc các chủ thể được giao nhiệm vụ quản lý thu thuế sẽ tổ chức, phân công cho các bộ phận, nhân sự để thực thi các chính sách thuế như thu thuế từ các chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế, đảm bảo tiến độ của việc nộp thuế cũng như bảo quản, quản lý nguồn tiền sau khi thu thuế. Đồng thời quản lý thu thuế cũng là việc Nhà nước xác lập cơ chế, biện pháp sao cho quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế (NNT) được bảo đảm và các cơ quan quản lý thu thuế hoạt động minh bạch, công tâm.” [10] Các quy trình nghiệp vụ quản lý thu thuế đang từng bước được tự động hóa nhờ sự ứng dụng CNTT, kể cả các quy trình có liên quan trực tiếp đến NNT, tiếp cận với yêu cầu quản lý thu thuế hiện đại. Đến nay, cơ quan thuế đã điện tử hóa các thủ tục hành chính tiếp nhận và trả kết quả giải quyết hồ sơ của NNT trong quá. trình thực hiện nghĩa vụ thuế.
Các nội dung quản lý thu thuế đối với HKD 1. Ban hành và triển khai các văn bản pháp luật về quản lý thu thuế Ban hành các văn bản hướng dẫn và kế hoạch triển khai về quản lý thu thuế là: hoạt động nhằm phổ biến, truyền tải những tư tưởng, quan điểm, nội dung cơ bản của văn bản quy phạm pháp luật đến NNT, cơ quan thuế, và các tổ chức, cá nhân có liên quan để nâng cao nhận thức, hiểu biết về luật quản lý thu thuế. [13] Việc triển khai các văn bản về quản lý thu thuế trên địa bàn quận là việc làm hết sức cần thiết và quan trọng. Nhà nước, thông qua các cơ quan chức năng của mình để xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý thu thuế.
Dựa vào các văn bản pháp luật của Chính phủ, Tổng cục thuế là cơ quan chịu trách nhiệm chính triển khai và cụ thể hóa các văn bản pháp luật về quản lý thu thuế. Ngoài ra, Cục thuế cũng có thể ban hành những quy chế riêng của mình, phù hợp với quy định của pháp luật để thực hiện quản lý thu thuế thống nhất trong phạm vi cả nước từ trung ương đến địa phương, từ đó CCT xây dựng, triển khai kế hoạch thực hiện trực tiếp công tác quản lý thu thuế. Việc ban hành, triển khai các chính sách, pháp luật về quản lý thu thuế phải tuân thủ các nguyên tắc, đó là phù hợp với Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm tính công bằng, khách quan. Ngôn từ phải chính xác, phổ thông, cách diễn đạt phải dễ.
Bạn hành một cách kịp thời, hiệu quả, quy định cụ thể nội dung cần điều chỉnh, rõ ràng, dễ thực hiện. - Tiêu chí đánh giá công tác ban hành và triển khai các văn bản pháp luật về. quản lý thu thuế đối với HKD: + Số lượng văn bản triển khai thực hiện đã ban hành. Tổ chức bộ máy quản lý thu thuế Theo Nguyễn Minh Đoan (2015), “bộ máy nhà nước là hệ thống các cơ quan từ Trung ương đến địa phương được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc chung, thống nhất nhằm thực hiện những nhiệm vụ và chức năng của nhà nước.
máy nhà nước thực chất có thể hiểu là một tổ chức để triển khai thực thi pháp luật của nhà nước và do đó tùy thuộc các tư duy về quản lý nhà nước mà có thể có những dạng tổ chức khác nhau. Bộ máy quản lý thu thuế thuộc Bộ tài chính quản lý, được tổ chức và quản lý theo ngành dọc, tập trung, thống nhất từ Trung ương đến địa phương, bao gồm: - Cơ quan quản lý thuế cấp Trung ương là Tổng cục thuế. - Cơ quan quản lý thuế cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là Cục thuế các tỉnh, thành phố. - Cơ quan quản lý thuế cấp quận, huyện, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là Chi cục thuế khu vực) trực thuộc Cục thuế tỉnh, thành phố.
Theo mô hình trên, việc phân cấp quản lý thu thuế được tiến hành như sau: Tổng cục thuế chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra tình hình thực hiện công tác quản lý thu thuế trong toàn ngành; Cục thuế các tỉnh, thành phố triển khai các nội dung do Tổng cục thuế chỉ đạo, căn cứ vào tình hình thực tế của địa phương để hướng dẫn các chi cục thuế khu vực thực hiện, giải quyết các vướng mắc của chi cục thuế khu vực, kiểm tra tình hình thực hiện công tác quản lý thu phân cấp quản lý; Chi cục thuế khu vực theo chỉ đạo của Cục thuế trực tiếp thực hiện công tác quản lý thu thuế, triển khai văn bản và phối hợp với các tổ chức, phòng, ngành có liên quan để thực hiện công tác thu thuế. 9 Cơ cấu tổ chức bộ máy thu thuế của CCTKV được xây dựng dựa trên mô hình tổ chức quản lý theo chức năng, gồm các Đội: đội kê khai - kế toán thuế - tin học, đội quản lý thuế liên phường, đội kiểm tra thuế, đội kiểm tra nội bộ, đội nghiệp vụ - dự toán - pháp chế. đội hành chính - nhân sự - tài vụ - ấn chỉ, đội tuyên truyền - hỗ trợ người nộp thuế, đội trước bạ và thu khác, đội quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế. - Tiêu chí đánh giá tổ chức tổ chức bộ máy quản lý thu thuế + Số lượng cán bộ, công chức quản lý thu thuế.
+ Chất lượng cán bộ, công chức quản lý thu thuế. Tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế Tuyên truyền pháp luật về chính sách thuế được hiểu là “hoạt động nhằm phổ. biến, truyền tải những tư tưởng, quan điểm, nội dung cơ bản của chính sách thuế, quản lý thu thuế đến NNT và cộng đồng dân cư nhằm nâng cao nhận thức chung của xã hội về pháp luật thuế”. [12] Mu ̣c đích của tuyên truyền là: “việc nêu ra các thông tin (vấn đề) cho nhiều người biết đế n nhằm đưa đẩy thái độ, suy nghĩ, tâm lý và ý kiến của quần chúng theo chiều hướng nào đấy mà người truyề n thông tin mong muốn.