Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về quản lý thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Chương 2: Thực trạng quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Cục thuế thành phố Đà Nẵng. Chương 3: Phương hướng và giải pháp tăng cường quản lý thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Cục thuế thành phố Đà Nẵng. 7 CHƢƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH 1. Những vấn đề cơ bản về thuế đối với doanh nghiệp NQD 1.
Khái niệm về thuế Cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất tuyệt đối khái niệm về thuế. Nhiều quan điểm đưa ra mới nhìn nhận từ những khía cạnh khác nhau của thuế nên chưa phản ánh bản chất chung nhất của phạm trù này. Theo các nhà kinh điển thì thuế được quan niệm rất đơn giản.Mác đã chỉ rõ để duy trì quyền lực công cộng đó, cần phải có những sự đóng góp của những người công dân của Nhà nước đó là thuế. Sau này khái niệm về thuế ngày càng được bổ sung và hoàn thiện hơn.
Trong cuốn từ điển kinh tế của hai tác giả người Anh Chrisopher Pass và Bryan Lowes cho rằng Thuế là một biện pháp của Chính phủ đánh trên thu nhập của cải và vốn nhận được của các cá nhân hay doanh nghiệp (thuế trực thu), trên việc chi tiêu về hàng hoá và dịch vụ (thuế gián thu) và trên tài sản. Trên góc độ của Nhà nước, thuế là công cụ để Nhà nước tập trung nguồn tài chính cho mình nhằm đáp ứng nhu cầu cho chi tiêu khi thực hiện các chức năng, nhiệm vụ Trên góc độ người nộp thuế, thuế được coi là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho nhà nước theo Luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Trên góc độ kinh tế học, thuế được xem xét như là một biện pháp đặc biệt, theo đó, Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực 8 từ khu vực tư sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế xã hội của Nhà nước. Ở nước ta hiện nay cũng chưa có một định nghĩa thống nhất về thuế.
Theo từ điển tiếng việt (Trung tâm từ điển học - 1998), thuế là khoản tiền hay hiện vật mà người dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tuỳ theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp… buộc phải nộp cho Nhà nước theo mức quy định. Mặc dù còn nhiều định nghĩa khác nhau, song nếu khái quát chung để tìm hạt nhân lý tưởng của từng quan điểm, có thể rút ra một số nét chung của thuế như sau: Thứ nhất, nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các mối quan hệ tiền tệ phát sinh giữa Nhà nước với các pháp nhân và các thể nhân trong xã hội. Thứ hai, những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt - việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của Nhà nước. Thứ ba, xét theo khía cạnh luật pháp, thuế là một khoản nộp cho Nhà nước được nhà nước quy định theo mức thu và thời hạn nhất định.
Từ những nội dung trên, có thể nêu khái niệm tổng quát về thuế như sau: Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng. Bản chất, chức năng của thuế 1.Bản chất của thuế: Bản chất của thuế được thể hiện bởi các thuộc tính bên trong, vốn có của thuế. Những thuộc tính đó có tính ổn định tương đối qua từng giai đoạn phát triển và biểu hiện thành những đặc trưng riêng có của thuế, qua đó giúp ta phân biệt giữa thuế với các công cụ tài chính khác, những đặc trưng đó là: 9 * Tính bắt buộc: là thuộc tính cơ bản vốn có của thuế để phân biệt giữa thuế với các hình thức động viên tài chính khác của Ngân sách nhà nước. Nhà kinh tế học nổi tiếng Joseph E.Stiglitz cho rằng: Thuế khác với đa số những khoản chuyển giao tiền từ người này sang người kia: Trong khi tất cả những khoản chuyển giao đó là tự nguyện thì thuế lại là bắt buộc.
* Tính không hoàn trả trực tiếp: Tính chất không hoàn trả trực tiếp của thuế được thể hiện ở chỗ thuế được hoàn trả gián tiếp cho người nộp thuế thông qua các dịch vụ công cộng của Nhà nước. Sự không hoàn trả trực tiếp được thể hiện cả trước và sau khi thu thuế. Trước khi thu thuế, Nhà nước không hề cung ứng trực tiếp một dịch vụ công cộng nào cho người nộp thuế. Sau khi nộp thuế, Nhà nước cũng không có sự bồi hoàn trực tiếp nào cho người nộp thuế.
Như vậy, người nộp thuế không thể phản đối việc thực hiện nghĩa vụ thuế hoặc không có quyền đòi hỏi được thừa hưởng nhiều dịch vụ công cộng hơn so với số thuế mà họ phải trả. * Tính pháp lý cao: Thuế là một công cụ tài chính có tính pháp lý cao. Điều này được quyết định bởi quyền lực chính trị của Nhà nước. Nhà nước là một tổ chức chính trị, đại diện cho quyền lợi của giai cấp thống trị, thi hành các chính sách do giai cấp thống trị đặt ra để cai trị xã hội.
Vì vậy, để bắt buộc các công dân “tự nguyện” nộp thuế thì Nhà nước phải sử dụng đến quyền lực của mình, quyền lực ấy được thể hiện bằng luật pháp. Chức năng của thuế Thuế không những là một phạm trù kinh tế, mà còn là phạm trù tài chính. Do đó, thuế không chỉ mang trong mình những thuộc tính chung vốn có của các quan hệ tài chính, mà còn biểu hiện những đặc trưng, hình thức vận động và các chức năng riêng có bắt nguồn từ tổng thể các mối quan hệ tài chính. Cho đến nay trên các sách báo kinh tế trong nước cũng như trên thế giới cũng chưa có sự thống nhất trong việc đưa ra số lượng các chức năng của thuế 1 và tên gọi của chúng, nhưng thông qua quá trình ra đời, tồn tại và phát triển của thuế, chúng ta thấy thuế luôn thực hiện hai chức năng cơ bản: Chức năng huy động nguồn lực tài chính cho Nhà nước và chức năng điều tiết kinh tế.
Vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường Để quản lý, điều hành vĩ mô nền kinh tế xã hội, Nhà nước sử dụng nhiều công cụ như: Kế hoạch hoá, pháp luật, các chính sách tài chính tiền tệ. Trong các công cụ trên thì chính sách tài chính tiền tệ đóng vai trò quan trọng nhất và Thuế là một công cụ quan trọng trong chính sách tài chính tiền tệ, thuế được Nhà nước sử dụng để thực hiện vai trò quản lý vĩ mô kinh tế xã hội. Do vậy, thuế có các vai trò sau: Thứ nhất, thuế là khoản thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước Một nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu từ nội bộ nền kinh tế quốc dân.Tất cả các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước đều được đáp ứng qua các nguồn thu từ thuế, phí và các hình thức thu khác như: vay mượn, viện trợ nước ngoài, bán tài nguyên quốc gia, thu khác. Song thực tế các hình thức thu ngoài thuế đó có rất nhiều hạn chế, bị ràng buộc bởi nhiều điều kiện.
Do đó thuế được coi là khoản thu quan trọng nhất vì khoản thu này mang tính chất ổn định và khi nền kinh tế càng phát triển thì khoản thu này càng tăng. Ở nước ta, Thuế thực sự trở thành nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước từ năm 1990. Để có một nền tài chính quốc gia lành mạnh chủ yếu phải dựa vào nguồn thu từ nội bộ nền kinh tế quốc dân. Đặc biệt đối với nước ta hiện nay, các khoản viện trợ giảm xuống nhiều thì thuế phải trở thành nguồn thu chủ yếu của Ngân sách quốc gia, là một bộ phận cơ bản của chính sách tài chính quốc gia.
Sau hơn 20 năm đổi mới tình hình kinh tế nước ta có nhiều chuyển biến tích cực. Tăng trưởng kinh tế đạt khá, lạm phát được kìm hãm và đẩy lùi, nền kinh tế sau thời kỳ suy thoái đã dần hồi phục, thị trường được mở rộng, 1 kim ngạch xuất khẩu tăng, tạo điều kiện cho sản xuất trong nước phát triển. Quan hệ kinh tế đối ngoại từng bước được mở rộng và phát triển hội nhập; thu NSNN năm sau đều cao hơn năm trước đáp ứng được nhu cầu chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển, góp phần tích lũy cho Ngân sách và chi trả nợ vay, như vậy thuế đã góp phần tích cực trong việc tăng thu Ngân sách. Tỷ lệ động viên GDP vào Ngân sách Nhà nước ngày càng tăng trong đó mức động viên thuế và phí chiếm vai trò quan trọng.
Ngân sách Nhà nước được thu từ nhiều nguồn khác nhau: Từ thuế, phí lệ phí, viện trợ nước ngoài, tín dụng, nhưng thuế và phí, đặc biệt là thuế là nguồn thu chủ yếu, là bộ phận cơ bản của nền tài chính quốc gia. ở các nước phát triển, thuế chiếm trên 90% tổng thu ngân sách. Ở Việt Nam vai trò của thuế trong tổng thu ngân sách chiếm tỷ trọng lớn ngày càng tăng, tỷ trọng huy động ngân sách nhà nước trên GDP của Việt Nam các năm gần đây như sau: Biểu đồ 1.1 : Tỷ trọng huy động thu NSNN/GDP (Nguồn: Dữ liệu của Tổng cục Thống kê và Bộ Tài chính) Với cơ cấu nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, hệ thống thuế được áp dụng thống nhất, đồng bộ giữa các thành phần kinh tế đã bao quát toàn bộ mọi 1 hoạt động SXKD, thuế đã hoàn thành được nhiệm vụ tập trung tích lũy ngân sách đảm bảo cho yêu cầu chi của Nhà nước về các mặt: Chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển. Thứ hai, thuế là công cụ quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế: Chính sách thuế được đặt ra không chỉ nhằm mang lại số thu đơn thuần cho ngân sách mà yêu cầu cao hơn là qua thu góp phần thực hiện chức năng việc kiểm kê, kiểm soát, quản lý hướng dẫn và khuyến khích phát triển sản xuất, mở rộng lưu thông đối với tất cả các thành phần kinh tế theo hướng phát triển của kế hoạch nhà nước, góp phần tích cực vào việc điều chỉnh các mặt mất cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân.