Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (NC&PT) giữ vai trò nền tảng và động lực then chốt đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, đẩy nhanh sự phát triển của lực lượng sản xuất và nâng cao năng suất lao động xã hội. Trong chu trình hoạt động khoa học và công nghệ (KH&CN), sản phẩm hình thành là nguồn tài liệu phản ánh toàn bộ tiến trình từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc, bao gồm hai thành phần cơ bản: thông tin về đề tài và thông tin về báo cáo kết quả nghiên cứu (KQNC). Đây là loại hình tư liệu đặc biệt, cấu thành yếu tố thiết yếu của năng lực đổi mới sáng tạo nếu được kiểm soát, lưu giữ và khai thác hiệu quả.
Trên bình diện quốc tế, hoạt động quản lý thông tin về đề tài và báo cáo KQNC đã được nhiều quốc gia triển khai với quy mô lớn, thiết lập các hệ thống cơ sở dữ liệu (CSDL) đồng bộ phục vụ quản lý và chuyển giao công nghệ. Tại Việt Nam, hệ thống thể chế pháp lý và hiện trạng quản lý nguồn thông tin này đã trải qua nhiều giai đoạn thay đổi, từ cơ chế quản lý tập trung thời kỳ trước đổi mới đến giai đoạn phân cấp sau khi Luật Khoa học và Công nghệ năm 2000 ra đời. Xuất phát từ bối cảnh thực tiễn đó, tác giả Trần Thị Thu Huyền (lớp K52, Khoa Thông tin Thư viện) đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp nhằm nghiên cứu, phân tích toàn diện hiện trạng quản lý thông tin đề tài và báo cáo KQNC tại Việt Nam, đối chiếu với kinh nghiệm quốc tế để rút ra các đề xuất hoàn thiện.
Mục đích nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể gồm hai nhiệm vụ:
- Tiếp xúc và tìm hiểu về hoạt động quản lý thông tin về đề tài và báo cáo kết quả nghiên cứu tại Việt Nam.
- Học hỏi kinh nghiệm quốc tế và nâng cao trình độ chuyên môn cũng như năng lực làm việc trong lĩnh vực thông tin - thư viện.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài bao gồm:
- Đối tượng nghiên cứu: Hai thành phần chủ yếu cấu thành hệ thống thông tin về hoạt động NC&PT, gồm thông tin về đề tài (các nhiệm vụ KH&CN đã được phê duyệt thuyết minh) và thông tin về báo cáo kết quả thực hiện đề tài (báo cáo tổng kết chính thức được nghiệm thu, công nhận).
- Phạm vi nghiên cứu: Không gian nghiên cứu tập trung tại Việt Nam (trọng tâm là cơ quan đầu mối thông tin cấp quốc gia - Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia) và khảo cứu thực tiễn tại một số quốc gia trên thế giới (Hoa Kỳ, Liên bang Nga, Nhật Bản, Cộng hòa Séc, Malaysia, Philippines, Indonesia). Thời gian nghiên cứu bao quát từ năm 1980 đến giai đoạn thực hiện Quyết định số 03/2007/QĐ-BKHCN năm 2007.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận được xây dựng dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, hệ thống quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng và chính sách của Nhà nước Việt Nam về công tác thông tin - thư viện và hoạt động KH&CN.
Về mặt lý luận nghiệp vụ và học thuật, tác giả tiếp cận hệ thống khái niệm chuẩn hóa từ các tổ chức quốc tế và văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam:
- Khái niệm nghiên cứu và phát triển (NC&PT): Tác giả trích dẫn định nghĩa của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc (UNESCO, 1984) và Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD, 2002), xác định NC&PT là hoạt động sáng tạo có hệ thống nhằm nâng cao kho tàng tri thức và tạo ra ứng dụng mới, bao gồm ba phân đoạn: nghiên cứu cơ bản (thuần túy và có định hướng), nghiên cứu ứng dụng và triển khai thực nghiệm. Đối chiếu với Luật KH&CN năm 2000 của Việt Nam, khái niệm "nghiên cứu khoa học" bao quát nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng; khái niệm "phát triển công nghệ" tương ứng với triển khai thực nghiệm và sản xuất thử nghiệm.
- Khái niệm nhiệm vụ KH&CN: Căn cứ Nghị định số 81/2002/NĐ-CP của Chính phủ, nhiệm vụ KH&CN là những vấn đề KH&CN cần được giải quyết dưới các hình thức đề tài, dự án và chương trình KH&CN.
- Khái niệm báo cáo kết quả nghiên cứu và "tài liệu xám" (Grey Literature): Căn cứ Quyết định số 03/2007/QĐ-BKHCN của Bộ trưởng Bộ KH&CN, kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN là các tư liệu phản ánh kết quả, bao gồm báo cáo tổng kết chính thức đã được nghiệm thu đạt yêu cầu, báo cáo chuyên đề, báo cáo nhánh, phụ lục số liệu điều tra, quy trình công nghệ, bản đồ, bản vẽ... Tác giả liên hệ với định nghĩa báo cáo kỹ thuật (Technical Report) của Tổ chức Tiêu chuẩn Thông tin Quốc gia Hoa Kỳ (NISO, 1997) và khái niệm "tài liệu xám" theo định nghĩa Hội nghị Quốc tế về Tài liệu Xám (ICGL Luxembourg 1997, mở rộng tại New York 2004) cùng các nghiên cứu trong nước của Trần Mạnh Tuấn (2006), Nguyễn Viết Nghĩa (1999). Theo đó, báo cáo KQNC và thuyết minh đề tài được xác định bản chất là tài liệu xám (trước đây ở Việt Nam gọi là "tài liệu không công bố" hoặc "tài liệu chưa xuất bản"), không phát hành qua kênh thương mại nhưng chứa đựng hàm lượng tri thức nguyên gốc cao.
Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả sử dụng gồm: phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp và phương pháp đánh giá. Nguồn dữ liệu sử dụng trong khóa luận gồm các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam từ năm 1980 đến 2007, số liệu thống kê đăng ký đề tài và báo cáo KQNC tại Vụ Kế hoạch - Tổng hợp (giai đoạn 1982-1990) và Cục Thông tin KH&CN Quốc gia (giai đoạn 1990-2000 và sau năm 2001), cùng dữ liệu từ các báo cáo chuyên môn, ấn phẩm, niên giám và website chính thức của các cơ quan quản lý thông tin KH&CN quốc tế như OSTI/DOE, FEDRIP, NTIS (Hoa Kỳ), VNTIC (Nga), JST, NII (Nhật Bản).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Một số khái niệm về hoạt động quản lý thông tin về đề tài và báo cáo kết quả nghiên cứu và kinh nghiệm quốc tế
Chương này tập trung xác lập cơ sở lý thuyết về chu trình tài liệu khoa học, phân tích cấu trúc của hoạt động thông tin NC&PT và khảo cứu mô hình tổ chức quản lý thông tin tại các quốc gia phát triển.
Tác giả hệ thống hóa 7 bước cơ bản của quy trình thực hiện đề tài nghiên cứu sử dụng kinh phí từ ngân sách nhà nước (NSNN) tương ứng với các sản phẩm tư liệu hình thành trong bảng sau:
| Thứ tự |
Các bước cơ bản của quy trình nghiên cứu |
Sản phẩm tư liệu chủ yếu |
| 1 |
Lựa chọn đề tài |
Bản đề xuất nhiệm vụ KH&CN; Đối tượng nghiên cứu (toàn bộ hoặc một phần) |
| 2 |
Xây dựng đề cương |
Bản Thuyết minh đề tài (tên đề tài, đối tượng, phạm vi, phương pháp, nội dung, sản phẩm dự kiến, tiến độ, kinh phí, nhân lực) |
| 3 |
Phê duyệt đề cương |
Bản Thuyết minh được phê duyệt bằng Quyết định của cấp có thẩm quyền căn cứ kết quả thẩm định của Hội đồng xét duyệt đề cương |
| 4 |
Tiến hành nghiên cứu |
Báo cáo tổng thuật tài liệu; bài báo khoa học theo chuyên đề; báo cáo tổng kết chuyên đề; kỷ yếu hội thảo; số liệu điều tra cơ bản, điều tra xã hội học; các sản phẩm tư liệu khác |
| 5 |
Viết báo cáo tổng hợp kết quả |
Báo cáo tổng kết đề tài (dự thảo); Báo cáo tóm tắt (dự thảo) |
| 6 |
Đánh giá, nghiệm thu |
Báo cáo tổng kết đề tài (chính thức) được Hội đồng nghiệm thu đánh giá đạt yêu cầu trở lên hoặc cấp có thẩm quyền công nhận; các sản phẩm trung gian ở bước 4 |
| 7 |
Công bố kết quả |
Bài báo khoa học tổng quan về KQNC đã nghiệm thu; sách, chuyên khảo, tổng luận, phim, video công bố từng phần hoặc toàn bộ KQNC |
Về mặt chức năng, quản lý thông tin về đề tài và báo cáo KQNC được nhìn nhận từ hai khía cạnh: quản lý hành chính nhà nước (sử dụng công cụ pháp luật điều chỉnh các hành vi tạo lập, lưu giữ, sử dụng tư liệu) và hoạt động nghiệp vụ thông tin KH&CN (quá trình chọn lọc, thu thập, xử lý, lưu trữ, tìm kiếm và phổ biến thông tin). Tác giả phân tích rõ vai trò của thông tin đề tài trong việc tránh hiện tượng nghiên cứu trùng lặp gây lãng phí NSNN, nâng cao tính công khai, minh bạch, thiết lập liên kết giữa các tổ chức/cá nhân nghiên cứu và cung cấp nguồn tin cập nhật từ các báo cáo chuyên đề trung gian. Đối với thông tin báo cáo KQNC, vai trò thể hiện ở việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về KH&CN, cung cấp tiền đề phát hiện/sáng tạo mới và bảo đảm tính kế thừa tri thức.
Về kinh nghiệm quốc tế, chương 1 phân tích chi tiết mô hình của ba quốc gia điển hình và một số nước trong khu vực:
- Hoa Kỳ: Thiết lập hệ thống tích hợp liên ngành quy mô lớn:
- Hệ thống thông tin "Tóm tắt Dự án NC&PT Liên bang" (Federal R&D Project Summaries) do Cục Thông tin KH&CN thuộc Bộ Năng lượng Hoa Kỳ (OSTI/DOE) chủ trì, tích hợp siêu dữ liệu từ nhiều cơ quan (USDA, DOE, EPA, NIH, NSF, SBA, DoD, NASA, TRB) với trên 800.000 dự án, vận hành theo cơ chế siêu tìm kiếm (metasearch).
- CSDL "Nghiên cứu Liên bang đang tiến hành" (FEDRIP) do NTIS quản lý, đến tháng 01/2004 đã có trên 228.000 biểu ghi đề tài đang thực hiện, cung cấp trên các hệ thống thương mại như DIALOG với cấu trúc chuẩn gồm 19 trường dữ liệu (mã số đề tài, nhà nghiên cứu chính, cơ quan cấp kinh phí, tóm tắt, kinh phí...).
- Dịch vụ Thông tin Kỹ thuật Quốc gia (NTIS) thành lập từ năm 1964, hoạt động theo Chương 23 Luật Liên bang và Luật Quảng bá Công nghệ năm 1992 (Public Law 102-245) bắt buộc mọi cơ quan dùng ngân sách liên bang phải giao nộp 01 bản báo cáo kỹ thuật. NTIS lưu trữ trên 3 triệu báo cáo kỹ thuật thuộc hơn 350 lĩnh vực, có cơ chế tái đầu tư kinh phí thu được từ dịch vụ mà không cần thông qua Quốc hội.
- Liên bang Nga: Trung tâm Thông tin Khoa học và Kỹ thuật Liên bang Nga (VNTIC) thành lập hơn 40 năm, là cơ quan đầu mối quốc gia thu thập tài liệu xám theo Luật Liên bang về nộp báo cáo bắt buộc năm 1994. VNTIC lưu giữ bộ sưu tập trên 7 triệu tài liệu (báo cáo KQNC và luận án tiến sĩ, phó tiến sĩ). Hệ thống CSDL của VNTIC gồm CSDL báo cáo KQNC (trên 1,4 triệu biểu ghi), CSDL luận án (trên 500.000 biểu ghi), CSDL cơ quan NC&PT (trên 6.000 cơ quan), CSDL đề tài đang tiến hành (trên 1,1 triệu biểu ghi), CSDL người có học vị tiến sĩ (trên 14.000 biểu ghi) và CSDL tiếng Anh RDIR (trên 30.000 biểu ghi).
- Nhật Bản: Cục Khoa học và Công nghệ Nhật Bản (JST) xây dựng Hệ thống thông tin NC&PT "ReaD" từ tháng 8/1998, đến năm 2007 ghi nhận khoảng 916.000 lượt truy cập website tiếng Anh. Hệ thống tích hợp 4 CSDL: Viện nghiên cứu (~2.200 viện), Cán bộ nghiên cứu (~200.000 cán bộ), Đề tài nghiên cứu (~58.000 đề tài) và Nguồn lực nghiên cứu (~3.500 loại). Bên cạnh đó, Viện Tin học Quốc gia (NII) phối hợp với JSPS phát triển CSDL đề tài được tài trợ KAKEN hỗ trợ song ngữ Nhật - Anh.
- Các quốc gia khác: Khóa luận lược khảo hệ thống đăng ký đề tài và kết quả của Cộng hòa Séc (hệ thống thông tin hành chính công gồm 4 thành phần đăng ký), Malaysia (hệ thống MasticLink của Trung tâm MASTIC), Philippines (các CSDL của Viện STII thuộc Bộ DOST) và Indonesia (CSDL LAPOR của Viện Khoa học Indonesia).
Chương 2. Hiện trạng quản lý thông tin về đề tài và báo cáo kết quả nghiên cứu ở Việt Nam
Chương 2 là nội dung trọng tâm của khóa luận, phản ánh thực trạng quản lý thông tin theo hai giai đoạn phát triển thể chế pháp lý:
1. Giai đoạn trước khi có Luật Khoa học và Công nghệ (trước năm 2001)
Công tác quản lý giai đoạn này căn cứ vào Quyết định số 271-QĐ ngày 06/06/1980 và Thông tư số 648/THKH ngày 06/06/1980 của Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước (Ủy ban KHKTNN):
- Về quản lý thông tin đề tài: Toàn bộ đề tài thuộc kế hoạch của các ngành, các cấp phải đăng ký tại Ủy ban KHKTNN sau khi duyệt đề cương. Cơ quan có trách nhiệm đăng ký gồm Bộ/ngành chủ quản, UBND tỉnh/thành phố hoặc cơ sở nghiên cứu tùy theo cấp quản lý. Hồ sơ đăng ký gồm Phiếu đăng ký đề tài và Thuyết minh kế hoạch tiến hành đề tài. Trong vòng 30 ngày, Ủy ban KHKTNN cấp số đăng ký đề tài; trường hợp trùng lặp sẽ từ chối cấp số và thông báo lý do. Cơ quan tài chính chỉ cấp kinh phí sau khi đề tài có số đăng ký chính thức. Tuy nhiên, giai đoạn 1980-1990 việc đăng ký gặp hạn chế do tính tập trung hóa bất cập, nhân lực tại Vụ Kế hoạch - Tổng hợp chỉ làm việc theo chế độ kiêm nhiệm và nhận thức của cơ sở còn thấp.
- Năm 1990, nhiệm vụ được bàn giao sang Trung tâm Thông tin - Tư liệu KH&CN Quốc gia (nay là Cục Thông tin KH&CN Quốc gia). Đơn vị đã thành lập Phòng Thông tin Nghiên cứu - Triển khai chuyên trách gồm 4 cán bộ, xây dựng CSDL thư mục mang tên CSDL DETAI. Tính đến cuối năm 2000, CSDL DETAI lưu trữ trên 5.000 biểu ghi thư mục đề tài, xuất bản định kỳ 4 số/năm trên "Tạp chí tóm tắt tài liệu Việt Nam" và cung cấp trực tuyến qua Mạng thông tin KH&CN Việt Nam (VISTA).
- Về quản lý báo cáo KQNC: Quy định nộp báo cáo tổng kết toàn diện và phiếu đăng ký trong vòng 15 ngày sau khi nghiệm thu chính thức; việc tiếp nhận hồ sơ là căn cứ để Nhà nước xác nhận quyền tác giả. Cục Thông tin KH&CN Quốc gia là đầu mối tập trung duy nhất trên toàn quốc tiếp nhận, lưu giữ, cấp Giấy chứng nhận và số hóa báo cáo KQNC. CSDL KQNC được xây dựng trên máy tính phục vụ tra cứu.
Tác giả thống kê tình hình đăng ký báo cáo KQNC tại cơ quan đầu mối quốc gia qua Bảng 6 của khóa luận:
| Giai đoạn |
Số BC KQNC đăng ký |
Số đăng ký trung bình năm |
Cấp Nhà nước (SL / %) |
Cấp Bộ (SL / %) |
Cấp tỉnh, thành phố (SL / %) |
Cấp cơ sở (SL / %) |
| 1982-1990* |
673 |
84 |
568 / 84,4% |
87 / 13,0% |
8 / 1,2% |
10 / 1,4% |
| 1991-1995 |
1.433 |
287 |
541 / 37,7% |
775 / 54,1% |
13 / 0,9% |
104 / 7,3% |
| 1996-2000 |
1.356 |
271 |
409 / 30,2% |
743 / 54,8% |
68 / 5,0% |
136 / 10,0% |
(Ghi chú: Giai đoạn 1982-1990 do Vụ Kế hoạch - Tổng hợp, Ủy ban KHKTNN thực hiện).
Số liệu cho thấy tỷ trọng đăng ký có sự chuyển dịch rõ rệt từ cấp Nhà nước (chiếm 84,4% giai đoạn 1982-1990) sang cấp Bộ (chiếm trên 54% trong giai đoạn 1991-2000), trong khi cấp tỉnh/thành phố và cơ sở chiếm tỷ lệ rất nhỏ. Đối tượng khai thác kho báo cáo KQNC chủ yếu là cán bộ nghiên cứu, giảng viên, cán bộ quản lý và học viên sau đại học, với tần suất bình quân 300 lượt người khai thác mỗi năm.
2. Hiện trạng quản lý sau khi có Luật Khoa học và Công nghệ (từ ngày 01/01/2001)
Luật KH&CN năm 2000 được Quốc hội khóa X thông qua ngày 09/6/2000, có hiệu lực từ ngày 01/01/2001. Luật đã tạo ra sự thay đổi lớn về khung pháp lý:
- Khoảng trống quản lý thông tin đề tài: Luật KH&CN năm 2000 chỉ quy định việc đăng ký, lưu giữ, sử dụng thông tin về KQNC mà không có quy định bắt buộc đăng ký đề tài nghiên cứu. Do đó, việc thu thập thông tin đề tài rơi ra ngoài thẩm quyền pháp định của Cục Thông tin KH&CN Quốc gia, dẫn tới CSDL DETAI phải ngừng cập nhật từ năm 2001. Hệ quả là công tác xét duyệt trùng lặp đề tài giữa các Bộ, ngành và địa phương gặp rất nhiều trở ngại. Trước đòi hỏi bức thiết từ thực tiễn quản lý, từ năm 2006, Cục Thông tin KH&CN Quốc gia đã tự chủ động bố trí nguồn lực để thu thập thông tin về khoảng 1.200 đề tài/năm tại các Bộ, ngành Trung ương, đưa vào CSDL DETAI, phát hành ấn phẩm "Các nhiệm vụ KH&CN đang tiến hành" (2 số/năm) và tích hợp mạng VISTA, tuy nhiên vẫn chưa bao quát hết các địa phương.
- Đổi mới quản lý báo cáo KQNC theo Quyết định số 03/2007/QĐ-BKHCN: Ban hành Quy chế phân cấp rõ rệt trách nhiệm đăng ký, giao nộp báo cáo KQNC có sử dụng NSNN trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày nghiệm thu, công nhận. Cơ chế phân cấp gồm:
- Cục Thông tin KH&CN Quốc gia: Đầu mối quốc gia, trực tiếp đăng ký báo cáo KQNC cấp nhà nước và cấp Bộ.
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Tòa án Nhân dân Tối cao, Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước: Ủy quyền cho đơn vị chức năng làm đầu mối đăng ký báo cáo cấp cơ sở trực thuộc.
- UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Chỉ định cơ quan chuyên môn làm đầu mối đăng ký báo cáo KQNC cấp tỉnh và cấp cơ sở trong địa phương.
- Cơ sở dữ liệu KQNC tại Cục Thông tin KH&CN Quốc gia: Quản trị bằng phần mềm CDS/ISIS for Windows; là CSDL thư mục có đính kèm tệp toàn văn. Đến thời điểm tác giả khảo sát, CSDL đạt quy mô trên 9.000 biểu ghi (tích lũy từ năm 1975), tốc độ cập nhật bình quân khoảng 600 biểu ghi/năm. Trong cơ cấu nguồn tin, báo cáo đề tài cấp nhà nước chiếm gần 50%, cấp bộ chiếm 37%, còn lại là đề tài cấp tỉnh và cấp cơ sở.
Chương 3: Một số nhận xét và kiến nghị giải pháp
Dựa trên toàn bộ phân tích hiện trạng và đối chiếu với thông lệ quốc tế tại các chương trước, nội dung chương 3 tổng kết các nhận xét căn bản về những thành tựu đạt được cũng như bất cập tồn tại, đồng thời đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý thông tin đề tài và báo cáo KQNC ở Việt Nam:
Về mặt nhận xét: Khóa luận ghi nhận sự phát triển của hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia (từ dạng phiếu giấy, CSDL thư mục đơn giản đến CSDL toàn văn tích hợp trên CDS/ISIS for Windows và mạng VISTA). Tuy nhiên, tác giả chỉ ra điểm nghẽn lớn nhất là sự đứt gãy về mặt pháp lý khi Luật KH&CN năm 2000 bãi bỏ quy định bắt buộc đăng ký đề tài ngay từ giai đoạn phê duyệt thuyết minh, làm mất đi công cụ kiểm soát trùng lặp vĩ mô. Đồng thời, cơ chế phối hợp chia sẻ dữ liệu giữa các Bộ, ngành và địa phương chưa hình thành mạng lưới liên thông; năng lực số hóa và kinh phí duy trì hoạt động thông tin còn hạn hẹp so với quy mô nghiên cứu trên toàn quốc.
Về hệ thống kiến nghị giải pháp:
- Hoàn thiện khung khổ pháp lý: Kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định bắt buộc đăng ký thông tin đề tài ngay sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt thuyết minh và bố trí kinh phí từ NSNN, coi đây là điều kiện tiên quyết để giải ngân tài chính (tương tự kinh nghiệm Quyết định 271-QĐ trước đây và thông lệ quốc tế của Hoa Kỳ, Séc, Nga).
- Xây dựng hệ sinh thái dữ liệu tích hợp: Học tập kinh nghiệm của hệ thống Federal R&D Project Summaries (Hoa Kỳ) và ReaD (Nhật Bản) để thiết lập cổng thông tin hoặc hệ thống siêu tìm kiếm (metasearch) kết nối các CSDL chuyên ngành của các Bộ, ngành và địa phương, liên kết từ thông tin tổ chức, chuyên gia, đề tài đang tiến hành đến báo cáo toàn văn sau nghiệm thu.
- Đẩy mạnh hiện đại hóa công nghệ thông tin và số hóa: Nâng cấp phần mềm quản trị CSDL, hoàn thiện số hóa hồi cố toàn văn các báo cáo KQNC, mở rộng các phương thức phổ biến thông tin chọn lọc (SDI) và công khai trên mạng diện rộng nhằm tăng cường tính minh bạch và thúc đẩy chuyển giao công nghệ vào thực tiễn sản xuất.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã trích xuất, tổng hợp và phân tích hệ thống số liệu cụ thể phản ánh chân thực tiến trình quản lý thông tin khoa học tại Việt Nam và quốc tế:
| Nhóm dữ liệu / Chỉ số |
Số liệu thực tế trong văn bản |
Đơn vị / Cơ quan quản lý |
| Quy mô CSDL DETAI (đến năm 2000) |
Trên 5.000 biểu ghi thư mục |
Cục Thông tin KH&CN Quốc gia |
| Tốc độ thu thập đề tài tự nguyện (từ 2006) |
~1.200 đề tài/năm |
Cục Thông tin KH&CN Quốc gia |
| Quy mô CSDL KQNC (từ năm 1975) |
Trên 9.000 biểu ghi thư mục kèm toàn văn |
Cục Thông tin KH&CN Quốc gia |
| Tốc độ cập nhật CSDL KQNC |
~600 biểu ghi/năm |
Cục Thông tin KH&CN Quốc gia |
| Tần suất bạn đọc khai thác báo cáo KQNC |
300 lượt người/năm |
Kho báo cáo KQNC (Cục TTKH&CNQG) |
| Tổng số báo cáo nộp giai đoạn 1982-1990 |
673 báo cáo (84,4% cấp Nhà nước) |
Vụ Kế hoạch - Tổng hợp |
| Tổng số báo cáo nộp giai đoạn 1991-1995 |
1.433 báo cáo (54,1% cấp Bộ) |
Cục Thông tin KH&CN Quốc gia |
| Tổng số báo cáo nộp giai đoạn 1996-2000 |
1.356 báo cáo (54,8% cấp Bộ) |
Cục Thông tin KH&CN Quốc gia |
| Quy mô CSDL FEDRIP (Hoa Kỳ, đến 01/2004) |
Trên 228.000 đề tài nghiên cứu |
NTIS / DIALOG |
| Quy mô tài liệu xám NTIS (Hoa Kỳ) |
Trên 3 triệu báo cáo kỹ thuật |
NTIS |
| Quy mô tài liệu VNTIC (Liên bang Nga) |
Trên 7 triệu báo cáo KQNC và luận án |
VNTIC |
| Quy mô CSDL ReaD (Nhật Bản, năm 2007) |
2.200 viện, 200.000 cán bộ, 58.000 đề tài |
JST |
Về mặt học thuật và thực tiễn, khóa luận đóng góp những giá trị so với các nghiên cứu trước:
- Hệ thống hóa tường minh mối quan hệ giữa 7 bước của chu trình nghiên cứu với các dạng sản phẩm tư liệu đặc thù, định vị chuẩn xác báo cáo KQNC và bản thuyết minh đề tài trong hệ thống "tài liệu xám" theo chuẩn quốc tế.
- Phân tích rành mạch sự thay đổi mô hình quản lý thông tin qua hai mốc thời gian pháp lý (trước và sau Luật KH&CN năm 2000); chỉ ra chính xác lỗ hổng pháp luật khi không quy định đăng ký đề tài nghiên cứu, dẫn đến sự gián đoạn nguồn dữ liệu CSDL DETAI trong giai đoạn 2001-2005.
- Đưa ra bức tranh so sánh đối chiếu đa chiều về mô hình quản lý thông tin NC&PT giữa các cường quốc KH&CN (Mỹ, Nga, Nhật Bản) và các nước trong khu vực Đông Nam Á, cung cấp cơ sở thực chứng vững chắc cho việc kiến nghị sửa đổi chính sách quản lý thông tin khoa học tại Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của khóa luận xuất phát từ chính phạm vi tiếp cận nguồn dữ liệu và bối cảnh thể chế thời điểm nghiên cứu:
- Dữ liệu khảo sát thực tế tập trung chủ yếu vào cơ quan đầu mối quốc gia là Cục Thông tin KH&CN Quốc gia, chưa có điều kiện điều tra sâu số liệu quản lý thông tin tại mạng lưới các Sở KH&CN địa phương và các viện nghiên cứu chuyên ngành thuộc các Bộ.
- Thời gian nghiên cứu rơi vào giai đoạn Luật KH&CN năm 2000 chưa có quy định bắt buộc đăng ký đề tài, do đó số liệu về đề tài đang tiến hành giai đoạn 2001-2005 bị khuyết thiếu, việc khảo sát giai đoạn 2006 trở đi chỉ dựa trên nguồn thu thập tự nguyện chưa mang tính tổng thể toàn quốc.
Hướng nghiên cứu tiếp được xác định dựa trên phạm vi mở rộng:
- Nghiên cứu thiết kế mô hình kiến trúc CSDL siêu dữ liệu tích hợp liên thông (metasearch portal) kết nối CSDL đề tài và kết quả của các Bộ, ngành, địa phương với CSDL trung tâm quốc gia, áp dụng các chuẩn mô tả thông tin tương thích quốc tế.
- Khảo sát, đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của việc thương mại hóa, chuyển giao và ứng dụng thực tiễn các báo cáo KQNC đã đăng ký và lưu giữ sau nghiệm thu.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo học thuật có giá trị thiết thực đối với:
- Giảng viên, sinh viên và học viên cao học thuộc các ngành Khoa học Thông tin - Thư viện, Quản lý Khoa học và Công nghệ, Quản trị Thông tin trong các học phần về Quản lý nguồn tin KH&CN, Xử lý tài liệu xám và Chính sách thông tin quốc gia.
- Cán bộ quản lý, chuyên viên phụ trách công tác kế hoạch - tài chính, quản lý khoa học tại các Bộ, ngành, Sở Khoa học và Công nghệ các tỉnh/thành phố và các cơ quan thông tin KH&CN chuyên trách.
- Cán bộ thư viện tại các viện nghiên cứu, trường đại học trong công tác tổ chức, xử lý và số hóa nguồn tin báo cáo khoa học, luận án, kỷ yếu hội thảo.
Các nội dung đáng tham khảo nhất trong văn bản gồm: bảng tổng thuật 7 bước hình thành sản phẩm tư liệu của đề tài; phân tích khái niệm tài liệu xám và báo cáo kỹ thuật theo chuẩn NISO; kinh nghiệm cấu trúc các trường dữ liệu CSDL FEDRIP (Bảng 3), CSDL NTIS (Bảng 4), CSDL ReaD (Bảng 5); và bức tranh số liệu thống kê đăng ký báo cáo KQNC tại Việt Nam trong gần 20 năm (Bảng 6).
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao CSDL DETAI về các đề tài nghiên cứu đang tiến hành tại Cục Thông tin KH&CN Quốc gia lại ngừng cập nhật vào năm 2001?
Luật Khoa học và Công nghệ năm 2000 có hiệu lực từ ngày 01/01/2001 chỉ quy định việc đăng ký, hiến tặng, lưu giữ, sử dụng và thông tin về KQNC mà không quy định việc đăng ký đề tài nghiên cứu đang tiến hành. Do không còn cơ sở pháp lý bắt buộc và Cục Thông tin KH&CN Quốc gia không đủ kinh phí, nhân lực để tự mua nguồn tin này, CSDL DETAI (vốn đạt trên 5.000 biểu ghi vào cuối năm 2000) đã phải tạm dừng cập nhật từ năm 2001.
2. Báo cáo kết quả nghiên cứu (KQNC) thuộc dạng tài liệu nào và việc quản lý mang lại lợi ích gì trong quản lý nhà nước?
Báo cáo KQNC được xác định là "tài liệu xám" (Grey Literature) hoặc báo cáo kỹ thuật (Technical Report) không phát hành qua kênh thương mại. Việc công khai thông tin báo cáo KQNC giúp các cơ quan quản lý nhà nước theo dõi, đánh giá tác động của KH&CN đối với phát triển kinh tế - xã hội, tạo điều kiện nhanh chóng chuyển giao ứng dụng vào đời sống, tránh trùng lặp nghiên cứu và củng cố tính minh bạch trong sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước.
3. Theo Quyết định số 03/2007/QĐ-BKHCN, thẩm quyền đăng ký kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN được phân cấp như thế nào?
Quyết định 03/2007/QĐ-BKHCN phân cấp rõ ràng: Cục Thông tin KH&CN Quốc gia trực tiếp tiếp nhận đăng ký báo cáo KQNC nhiệm vụ cấp nhà nước và cấp Bộ; các Bộ và cơ quan ngang Bộ chỉ định đơn vị trực thuộc tiếp nhận đăng ký đối với nhiệm vụ cấp cơ sở thuộc Bộ; UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ định cơ quan trực thuộc làm đầu mối đăng ký báo cáo nhiệm vụ cấp tỉnh và cấp cơ sở trong phạm vi địa phương. Thời hạn giao nộp hồ sơ là 30 ngày làm việc kể từ ngày nghiệm thu, công nhận chính thức.
4. Hệ thống thông tin NC&PT ReaD của Nhật Bản quản lý những CSDL thành phần nào và quy mô ghi nhận ra sao?
Hệ thống ReaD của Cục Khoa học và Công nghệ Nhật Bản (JST) gồm 4 CSDL thành phần tích hợp: CSDL Viện nghiên cứu (khoảng 2.200 viện), CSDL Cán bộ nghiên cứu (khoảng 200.000 người), CSDL Đề tài nghiên cứu (khoảng 58.000 đề tài) và CSDL Nguồn lực nghiên cứu (khoảng 3.500 loại nguồn lực nhìn thấy hoặc không nhìn thấy được).
5. Cơ chế quản lý đề tài nghiên cứu theo Quyết định số 271-QĐ năm 1980 tại Việt Nam có điểm gì đặc thù về cấp kinh phí?
Theo Quyết định số 271-QĐ và Thông tư 648/THKH năm 1980, mọi đề tài sau khi được cấp quản lý duyệt đề cương đều phải đăng ký tại Ủy ban KHKT Nhà nước để được cấp một ký hiệu riêng gọi là "số đăng ký đề tài" trong thời hạn 30 ngày. Điểm đặc thù mang tính pháp lý bắt buộc là: chỉ sau khi nhận được số đăng ký đề tài do Ủy ban KHKT Nhà nước cấp, các cơ quan tài chính ở các ngành, các cấp mới được phép cấp phát kinh phí để triển khai nghiên cứu.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Thị Thu Huyền đã phân tích một cách có hệ thống cơ sở lý luận, kinh nghiệm quốc tế và hiện trạng công tác quản lý thông tin về đề tài cùng báo cáo kết quả nghiên cứu tại Việt Nam qua các giai đoạn thể chế từ năm 1980 đến 2007. Công trình làm nổi bật vai trò cốt lõi của việc quản lý nguồn tài liệu xám này trong việc chống lãng phí ngân sách nhà nước, loại trừ hiện tượng nghiên cứu trùng lặp và bảo đảm tính kế thừa tri thức khoa học. Trên cơ sở đối sánh với mô hình của Hoa Kỳ, Liên bang Nga và Nhật Bản, tác giả đã chỉ rõ những bất cập nảy sinh sau khi ban hành Luật Khoa học và Công nghệ năm 2000, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp xác đáng nhằm tái thiết chế tài đăng ký đề tài bắt buộc và xây dựng hệ thống thông tin tích hợp phục vụ đắc lực sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.