phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về quản lý TBDH ở trường THPT đáp ứng chương trình giáo dục phổ thông 2018. Thực trạng quản lý TBDH ở các trường THPT huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa đáp ứng chương trình giáo dục phổ thông 2018. Biện pháp quản lý TBDH ở các trường THPT huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa đáp ứng chương trình giáo dục phổ thông 2018.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THIẾT BỊ DẠY HỌC Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG ĐÁP ỨNG CHƢƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Trong quá trình dạy học, TBDH là công cụ lao động sư phạm của giáo viên và học sinh, yếu tố không thể thiếu được trong quá trình dạy học. Với tư cách là công cụ lao động sư phạm của giáo viên và học sinh, khi chúng ta sử dụng đúng quy trình, phù hợp với đặc trưng của từng bộ môn, TBDH đóng vai trò cung cấp nguồn thông tin cho học sinh trong học tập, tạo ra nhiều khả năng để giáo viên trình bày nội dung bài học một cách sâu sắc, thuận lợi, hình thành được ở học sinh những phương pháp học tập tích cực, chủ động, sáng tạo.
Trực quan trong dạy học là một trong những nguyên tắc lý luận dạy học, được nghiên cứu xuyên suốt qua các thời kỳ triết học: Trực quan trong triết học cổ đại, trực quan trong triết học siêu hình cận đại, trực quan trong triết học biện chứng duy tâm và trong triết học duy vật biện chứng. Cùng với sự phát triển của các tư tưởng trong lĩnh vực tâm lý học, giáo dục học, lý thuyết về dạy học trực quan đã có những bước tiến mới nhận thức được vai trò quan trọng của phương tiện dạy học trực quan. Tính trực quan trong dạy học đóng vai trò minh họa trong bài giảng của giáo viên, giúp học sinh không chỉ nhận biết được hiện tượng mà còn nắm rõ được bản chất của hiện tượng. Chính vì vậy, công tác quản lý cơ sở vật chất trường học nói chung và công tác quản lý TBDH nói riêng đã được nhiều tổ chức và cá nhân nghiên cứu.
Nhà giáo dục học vĩ đại người Tiệp Khắc J. Và do đó “bước đầu của nhận thức, không còn nghi ngờ gì nữa, bao giờ cũng bắt nguồn từ cảm giác (vì không có cái gì tồn tại trong nhận thức mà lại chưa tồn tại trong cảm giác” [22, tr 87]. Quan niệm này của ông đã đặt nền móng đầu tiên cho dạy học trực quan, với quan điểm cơ bản là: Dạy học được bắt 5 đầu từ quá trình quan sát sự vật hiện tượng. Trái hẳn với lối dạy học kinh viện, nhồi sọ và bắt học sinh thuộc lòng còn phổ biến thời kì đó, Komenski đề cao một phương pháp dạy học khuyến khích người tự học tiếp thu tri thức bằng chính những giác quan của mình.
Komenski đã tổng kết và phát triển kinh nghiệm về trực quan và đem áp dụng một cách có ý thức vào quá trình dạy học. Nhà giáo dục học lỗi lạc người Thụy Sĩ J.Pestalossi (1746-1827) đã phát triển nguyên tắc dạy học trực quan của Komenski với tư tưởng chỉ rõ mối quan hệ hữu cơ giữa tri giác cảm tính với sự phát triển tư duy Pestalossi đã đưa ra yêu cầu tổ chức quan sát sự vật hiện tượng trong quá trình dạy học xuất phát từ những quy luật tâm lí của học sinh. [22] Trong khi đó nhà hoạt động giáo dục văn hóa nổi tiếng người Nga Belinski (1811-1848) lại đi tìm sự gắn kết của việc dạy học trực quan với các đặc điểm sinh lí thần kinh của con người. Dựa trên các quan điểm duy vật ông xem các giác quan và bộ não của con người là hai lực lượng cần thiết có nhau.
ng nói: Nhà sư phạm trong dạy học cần phải dựa trên những biểu tượng của tr đã thu nhận được trong quá trình quan sát thế giới hiện thực. [22] Nhà giáo dục học người Nga Usinski (1824-1870) và các học trò của ông tiếp tục phát triển nguyên tắc dạy học trực quan dựa trên các thành tựu mới về tâm lý học và sinh lý học. ng khẳng định trực quan là cái ban đầu là nguồn gốc của tri thức. Cảm giác cung cấp tài liệu cho hoạt động trí tuệ Usinsski viết: “Không có cái gì có thể giúp anh san bằng bức tường ngăn cách giữa giáo viên và học sinh như là việc anh đưa cho học sinh xem một bức tranh và giải thích nó… đứa tr suy nghĩ bằng hình dạng, bằng màu sắc âm thanh và bằng cảm giác nói chung”.
Tuy vậy, trong lý thuyết của mình, Usinski phủ nhận bản chất của quá trình nhận thức. Theo ông cái trực quan chỉ là để nhận thức hiện tượng chứ không phải để nhận thức bản chất, ông viết: “Bản chất của các đối tượng trong thế giới vật chất chúng ta không thể hiểu hết được”.[22] Tại hội nghị quốc tế về giáo dục lần thứ 39 họp tại Giơnevơ (Thụy sĩ) năm 1984 và nhiều hội nghị về TBDH ở các nước xã hội chủ nghĩa đã thống nhất "Ngành giáo dục cần được đổi mới thường xuyên về mục đích, cấu trúc, nội dung, TBDH và phương pháp để tạo cho tất cả các học sinh có những cơ hội học tập". Nền giáo dục của từng quốc gia dân tộc tùy thuộc vào hoàn cảnh lịch sử, điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội và đặc biệt là vật chất, kĩ thuật để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục Ngoài hiện đại hóa nội dung, chương trình thì phương pháp và hình thức tổ 6 chức dạy học là hết sức quan trọng. Hiện nay hầu như các nước trên thế giới quan tâm đến việc hoàn thiện cơ sở vật chất, tập trung nghiên cứu, thiết kế, sản xuất TBDH với nhiều tính năng, chất lượng hiện đại để đáp ứng cho nhu cầu giáo dục của từng dân tộc.
Từ những yếu tố trên họ đã tự tìm cho mình một hướng đi, yêu cầu quản lý TBDH theo đúng nguyên tắc, nội dung, quy trình quản lý để nâng cao chất lượng giáo dục của từng quốc gia. Cùng với sự phát triển của giáo dục, người ta nhận thức rằng vai trò của phương tiện, TBDH là quan trọng trong quá trình dạy học, không chỉ giúp học sinh nhận biết hiện tượng mà còn giúp học sinh nắm được bản chất cơ bản của một vấn đề, bên cạnh đó sử dụng TBDH có hiệu quả giúp cho người học mở rộng kinh nghiệm, cảm tính và để khám phá bản chất của đối tượng. Lênin đã từng đề cập đến trong quy luật nhận thức của con người "Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn". Trong thực tế người học tiếp thu kiến thức qua nghe, nhìn thấy và cảm nhận khác, tuy nhiên khi nghe thì độ ghi nhớ của người học không cao dễ quên đi sau đó, khi quan sát, nhìn thấy trực quan thì người học để ghi nhớ, ấn tượng và khắc sâu kiến thức lâu hơn.
Việt Nam có câu: “Trăm nghe không bằng một thấy, trăm thấy không bằng một làm”. Người Ấn Độ đã tổng kết: “Tôi nghe - Tôi quên; Tôi nhìn - Tôi nhớ, Tôi làm - Tôi hiểu”. Có thể nói, trong lịch sử phát triển giáo dục của thế giới, phương tiện, TBDH giữ vai trò, vị trí hết sức quan trọng nó được các nước phát hiện và nghiên cứu rất sớm, vì TBDH đã được chứng minh là khuyến khích học sinh nhận thức được thế giới qua những giác quan của mình, là phương pháp dạy học phù hợp với điều kiện thực tế, sự phát triển tâm sinh lí của người học; đây là biện pháp hữu hiệu giúp học sinh phát triển tư duy, nhận biết hiện tượng và tiến tới nắm bắt bản chất của sự vật hiện tượng. Như vậy trong quá trình lĩnh hội kiến thức, người học muốn đạt hiệu quả cao thì phải thông qua quá trình nghe, nhìn và thực hành và đây là con đường nhận thức chân lí, nhận thức hiện thực khánh quan.
Các nghiên cứu trong nước Nghị quyết 29/NQ-TW ngày 04/11/2013, Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện nền GD & ĐT của nước ta "Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học, hài hòa đức, trí, thể, mỹ, dạy người, dạy chữ và dạy nghề. Đổi mới nội 7 dung giáo dục theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, trình độ và ngành nghề; tăng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống, tri thức pháp luật và ý thức công dân. Tập trung vào những giá trị cơ bản của văn hóa, truyền thống và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, giá trị cốt lõi và nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Tăng cường giáo dục thể chất, kiến thức quốc phòng, an ninh và hướng nghiệp. Dạy ngoại ngữ và tin học theo hướng chuẩn hóa, thiết thực, bảo đảm năng lực sử dụng của người học. Học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội" [18]. Ở nước ta trong những năm trở lại đây do quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế và công tác đối ngoại.
Yêu cầu cấp thiết của giáo dục là đổi mới, nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới là nội dung, chương trình, phương pháp dạy học để đáp ứng tinh thần đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam. Trong công tác đổi mới quản lý giáo dục ở nhà trường hiện nay thì quản lý cơ sở vật chất nói chung và quản lý TBDH nói riêng đang là một nhu cầu cấp thiết. Thiết bị và đồ dùng dạy học là phương tiện vật chất để phục vụ quá trình dạy học và đổi mới phương pháp dạy học, giúp cho giáo viên và học sinh thực hiện có hiệu quả mục tiêu dạy và học. TBDH cũng tạo điều kiện trực tiếp cho học sinh phát huy tính chủ động, phát triển năng lực sáng tạo trong tiếp thu kiến thức, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.
Ngày nay kinh tế, văn hóa, xã hội càng phát triển thì TBDH trong giáo dục cũng đa dạng, phong phú, nhiều chủng loại, thì vấn đề đặt ra làm sao quản lý TBDH có hiệu quả. Đây cũng là nhiệm vụ nặng nề của các cấp quản lý giáo dục, trực tiếp là các cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục.