chương I của đề tài. Nhóm dựa trên một khung lý thuyết có sẵn về Chủ nghĩa thể chế, tìm hiểu về khái niệm và vai trò của chủ nghĩa thể chế, sau đó vận dụng vào nghiên cứu của nhóm. Phương pháp này mang tính định hướng nghiên cứu, nhằm làm nền tảng hỗ trợ cho lập luận của công trình nghiên cứu được vững chắc. - Phương pháp nghiên cứu lịch sử: nhằm tìm hiểu nguồn gốc vấn đề, từ đó rút ra những cơ sở lịch sử cho những kết luận hay suy đoán về vấn đề.
Nhóm chúng tôi sẽ áp dụng phương pháp nghiên cứu này vào chương II của Công trình nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu lịch sử sẽ giúp nhóm theo dõi được hiệu quả và hợp lý hơn tất cả các diễn biến, mối quan hệ, các hành động của những quốc gia tiểu vùng sông Mekong trong việc quản trị tài nguyên nguồn nước khu vực này. - Phương pháp nghiên cứu tình huống: thông qua việc đưa ra và phân tích những trường hợp cụ thể nhằm làm sáng tỏ, chứng minh và khẳng định, kết luận vấn đề. Nhóm sẽ áp dụng phương pháp nghiên cứu này vào Chương III của đề tài để xem xét và phân tích những vấn đề trong trường hợp “quản trị nguồn nước sông Mekong”.
Nhóm sẽ phân tích trường hợp này chủ yếu qua 3 cấp độ: 5 (1) Cấp độ quốc gia: Nhóm sẽ tổng hợp phân tích hành động của một số quốc gia đóng vai trò quan trọng đối với việc thể chế hóa quản trị nguồn nước sông Mekong, tiêu biểu là Trung Quốc và Thái Lan. (2) Cấp độ khu vực: Nhóm sẽ nhìn nhận vấn đề với những ảnh hưởng mang tầm khu vực, cũng như các thể chế hợp tác đòi hỏi sự tham gia của nhiều quốc gia trong khu vực. (3) Cấp độ quốc tế: Nhóm cũng sẽ xem xét sự ảnh hưởng và các sáng kiến về việc thể chế hóa quá trình quản trị tài nguyên nước sông Mekong do các quốc gia ngoài khu vực đề xuất. Thông qua phương pháp nghiên cứu việc thể chế hóa trong trường hợp “quản trị nguồn nước sông Mekong”, nhóm sẽ đi đến được mục đích cuối cùng là nhận thức về tính khả thi, cũng như thực chứng về ý nghĩa của việc thể chế hóa quá trình quản lý tài nguyên nguồn nước sông Mekong.
Giới hạn nghiên cứu của đề tài: Tài nguyên nguồn nước: Trong tập hợp các tài nguyên nguồn nước như: thủy lợi, thủy điện, thủy hải sản, du lịch … nhóm chỉ giới hạn nghiên cứu của nhóm đối với vấn đề “thủy điện”, cũng như những hệ lụy của vấn đề này. 6 Phạm vi nghiên cứu: Nhóm sẽ giới hạn phạm vi nghiên cứu chủ yếu của nhóm trong 6 quốc gia cùng có dòng sông Mekong đi qua lãnh thổ quốc gia. Tuy nhiên, đối với trường hợp các sáng kiến từ các quốc gia ngoài khu vực, về thể chế hóa quá trình quản trị tài nguyên sông Mekong, nhóm sẽ không phân tích về các quốc gia đó và chỉ xem xét về phản ứng của các quốc gia trong khu vực đối với các sáng kiến này, cũng như ý nghĩa của chúng. Kết cấu đề tài Chƣơng I: Cơ sở lý thuyết 1.
Khái niệm chủ nghĩa thể chế 1. Vai trò của chủ nghĩa thể chế Chƣơng II: Thực trạng quản lý nguồn nƣớc sông Mekong 2. Khái quát tiểu vùng sông Mekong và tiềm năng thủy điện khu vực: 2. Tình hình phát triển hệ thống thủy điện trên lƣu vực sông Mekong: 2.
Các đập thủy điện hiện có và các dự án xây dựng đập thủy điện: 2. Mâu thuẫn cơ bản giữa các quốc gia quản lý nguồn nước và đập thủy điện: Chƣơng III: Thể chế quản lý nguồn nƣớc sông Mekong – Thực trạng và đánh giá: 3. Các sáng kiến, cơ chế, hợp tác chính thức về quản trị tài nguyên nƣớc-tài nguyên thủy điện sông Mekong hiện nay1: 3. Các cơ chế hợp tác khu vực về quản lý nguồn nƣớc Mekong:: 3.
MRC - Quá trình thành lập - Mục tiêu và Cơ chế thực hiện - Đánh giá hiệu quả trong quản trị tài nguyên nước Mekong 3. Các cơ chế hợp tác Khu vực với Quốc tế về quản lý nguồn nƣớc Mekong: 3. Hợp tác Mekong- ASEAN: 3. Hợp tác Mekong-Mỹ: 3.
Hợp tác Mekong-Ấn Độ: 1 http://www.vn/portal/page/portal/chinhphu/NuocCHXHCNVietNam/quanhevoicactochucquocte?categoryId=100 002827&articleId=10050403 7 3. Hợp tác Mekong-Nhật Bản: 3. Hợp tác Mekong-Hàn Quốc: Chƣơng IV: Đánh giá khả năng thực hiện thể chế hóa nguồn nƣớc Mekong và một số gợi ý: Kết luận: 1. Hƣớng ứng dụng và địa chỉ áp dụng: Bài nghiên cứu nhằm bước đầu nâng cao nhận thức của sinh viên về tình hình khu vực tiểu vùng sông Mekong, mà cụ thể hơn là quá trình quản trị tài nguyên nguồn nước của khu vực này.
Bên cạnh đó, nhóm mong muốn thông qua đề tài này tạo nên nền tảng, tư liệu tham khảo cho các bài viết nghiên cứu khoa học sinh viên, hay các bài viết đăng trên các tạp chí; hay những công trình nghiên cứu về Khu vực Châu á – Thái Bình Dương, nghiên cứu về Trung Quốc, các quốc gia thuộc tiểu vùng sông Mekong và các vấn đề của Đông Nam Á. Đồng thời, đây còn có thể là nguồn tài liệu tham khảo, phục vụ cho các cá nhân tham gia quá trình học tập và giảng dạy các môn học thuộc chuyên ngành Chính trị - Ngoại giao Quốc tế của Khoa Quan hệ Quốc tế trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn nói riêng và giới nghiên cứu quan hệ quốc tế tại Việt Nam nói chung. 8 CHƢƠNG I: KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA THỂ CHẾ 1. Khái niệm về thể chế và chủ nghĩa thể chế: “Thể chế” là một khái niệm còn mang tính mới, đa ngành và tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau.
Trong một bài viết của Hughes đăng vào năm 1936, “thể chế” được biết đến phổ biến là quá trình thiết lập một hình thái xã hội riêng biệt và bền vững. 2 Như vậy, theo góc nhìn của xã hội học, thể chế là một tập hợp những luật định và chuẩn tắc được các thành viên của một cộng đồng thống nhất thừa nhận và tuân theo trong một khoảng thời gian dài. Bằng những biện pháp thưởng phạt được đồng tình thông qua bởi đa số hay toàn bộ, “thể chế” này sẽ quy định và kiểm soát những cách thức hoạt động bên trong cộng đồng đó. Đối với giới nghiên cứu về quan hệ quốc tế, Robert Keohane từng định nghĩa “thể chế” như một phương cách chung trong hành động hay một hình thức tổ chức cộng đồng cụ thể, chính thức hoặc không chính thức.
3 Hedley Bull cũng xem cả những vấn đề như chiến tranh, các cơ chế ngoại giao, những điều luật quốc tế hay hệ thống cân bằng quyền lực giữa các cường quốc như “những thể chế của cộng đồng quốc tế”.4 Vấn đề chủ quyền quốc gia cũng được cho rằng mang tính thể chế bởi các học giả như John Ruggie5 và Stephen Krasner6. Như vậy, mở rộng đến mức độ quan hệ giữa các quốc gia với nhau, thể chế không những đặt ra những chuẩn tắc chung định hình cách hoạt động của thể chế và cách hành xử giữa các quốc gia bên trong thể chế, mà còn phân định và kiểm soát về hành vi của riêng mỗi quốc gia thành viên. Thường thì những thể chế được nhìn nhận như những điều luật, tập quán hay chuẩn tắc được ban hành chính thức.7 Những điều luật, tập quán hay chuẩn tắc này có ý nghĩa quan trọng đến việc định hình cách ứng xử của mỗi thành viên bên trong thể chế, bởi lẽ đi kèm với sự ban hành công khai sẽ là tính ràng buộc bằng các hình thức răn đe hay thưởng phạt. Robert Keohane gọi đây là những “thể chế mang tính cụ thể”, được công khai thành văn bản, mang tính lịch sử phụ thuộc vào những quyết định của các thành viên thể chế, và có khả năng xác định được về mặc không gian và thời 2 Hughes, “The Ecological Aspect of Institution”, American Sociological Review, 1936, tr.180; trích dẫn bởi Robert O.Keohane, International Institution: Two Approaches, International Studies Quarterly, Vol.Keohane, International Institution: Two Approaches, International Studies Quarterly, Vol.
383 4 Hedley Bull, The Anarchical Society, Columbia University Press, New York, 1977, tr.74 5 John Ruggie, “Continuity and Transformation in the World Polity: Toward a Neorealist Synthesis”, trong quyển Neorealism and its critics bởi Robert Keohane, New York, 1986, tr. 147 6 Stephen Krasner, Sovereignty: An Institutional Perspective, Manuscript, Center for Advanced Study in the Behavioral Sciences, Stanford, 1987, tr. 11 7 Stephen Bell, Institutionalism: Old and New, ….8 Tuy nhiên, cần lưu ý rằng có tồn tại những nhân tố mang tính thể chế không chính thức. Levi từng tranh luận rằng có những mô hình thể chế hoạt động rất hiệu quả được cấu thành bởi một hệ thống mang tính chuẩn tắc của những luật lệ không chính thức và đã được quốc tế hóa9.
Douglass North cũng lấy ví dụ, trong những tương tác thường ngày lẫn nhau, dù là trong gia đình, hay bên ngoài xã hội, hay trong quan hệ công việc, luôn tồn tại những quy tắc ứng xử, những chuẩn tắc quy định hành vi được hiểu ngầm giữa các thành viên tham gia với nhau.10 Như vậy, một cách khái quát, thể chế dù chính thức hay không chính thức đều là một tập hợp những điều luật mang tính lâu dài và gắn kết lẫn nhau, thực hiện 3 khía cạnh cơ bản là i) xác định vị trí và vai trò của thành viên bên trong thể chế; ii) phân định và giới hạn hành vi của các thành viên bên trong những khuôn khổ nhất định, và iii) định hình về kỳ vọng của toàn thể chế cùng các thành viên tham gia.11 Đối với vấn đề quản trị nguồn nước sông Mekong, bài viết sẽ tiếp cận với khái niệm “thể chế mang tính cụ thể” và 3 khía cạnh cơ bản của một thể chế mà Keohane đã đưa ra trong những nghiên cứu của mình. Từ góc nhìn trên, ta có thể định nghĩa “thể chế hóa” là xây dựng một tập hợp những điều luật và chuẩn tắc quy định và kiểm soát hành vi12, đảm bảo sự tồn tại của một khuôn khổ quản lý sự tương tác giữa các bên tham gia. Nói nôm na là tạo lập ra một luật chơi chung giữa các quốc gia thành viên, đồng thời có những biện pháp bảo vệ tính ràng buộc của luật chơi đó. Như đã nói, bài viết chủ yếu quan tâm nghiên cứu đến hình thức “thể chế cụ thể”, mà chỉ dấu quan trọng nhất của hình thức thể chế này là khả năng sự dụng những luật lệ của mình để chỉnh sửa hành vi của các thành viên tham gia.
Douglass North định nghĩa thể chế là những luật lệ, tính ràng buộc, cũng như những thể chế cấu trúc nên sự tương tác giữa các cá thể.