Chương 1: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu quản lý tổng hợp tài nguyên nước lưu vực sông Chương 2: Ảnh hưởng của điều kiện địa lý đến tài nguyên nước lưu vực sông Thạch Hãn Chương 3: Đánh giá tính tổn thương tài nguyên nước lưu vực sông Thạch Hãn phục vụ quản lý tổng hợp. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ TỔNG HỢP TÀI NGUYÊN NƯỚC LƯU VỰC SÔNG 1. Tổng quan về các công trình quản lý tổng hợp tài nguyên nước lưu vực sông trên thế giới và Việt Nam 1. Trên thế giới Lưu vực sông (LVS) được nghiên cứu từ nhiều lĩnh vực và hướng tiếp cận khác nhau.
Theo hướng phân tích lưu vực, đơn vị được sử dụng trong đánh giá tổng hợp là lưu vực sông. Nghiên cứu quy hoạch sử dụng hợp lý tài nguyên theo lưu vực sông là nội dung quan trọng của quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trường theo lưu vực. Ưu tiên hàng đầu trong quản lý tài nguyên nước của các quốc gia là quản lý tài nguyên nước theo hướng phát triển bền vững (PTBV). Do ý nghĩa và tầm quan trọng to lớn của PTBV tài nguyên nước nên vấn đề này luôn được quan tâm và nghiên cứu của các nhà khoa học, các cơ quan nghiên cứu và xác định chiến lược đúng đắn về khai thác, sử dụng, quản lý và bảo vệ bền vững tài nguyên nước (TNN )đã được định hướng trong tuyên bố các hội nghị quốc tế về quản lý TNN, như Kế hoạch hành động Mar del Plata (1997), Tuyên bố New Delhi (1990) và được củng cố trong chương 18 của lịch trình thế kỷ XXI.
Nhiều Hội nghị quốc tế đã được tổ chức nhằm đưa ra những thỏa thuận và nguyên tắc làm cơ sở cho PTBV tài nguyên nước trong tương lại, trước mắt đáp ứng mục tiêu cấp nước an toàn trong thế kỷ XXI. Nhiều nước đã xây dựng những định hướng và chính sách cụ thể để PTBV tài nguyên nước của mình. Những sự kiện quan trọng của thế giới để thực hiện PTBV tài nguyên nước đó là việc thành lập Hội đồng nước thế giới và đưa ra “Tầm nhìn nước thế giới trong thế kỷ XXI” tại Diễn đàn nước thế giới lần thứ nhất họp tại Markech, tháng 3/2000. “Tầm nhìn nước thế giới trong thế kỷ XXI” lại tiếp tục được thảo luận tại Diễn đàn nước thế giới lần thứ hai họp tại Hague, Hà Lan và bản Tuyên bố Laye về một Tầm nhìn về nước, cuộc sống và môi trường đã được Hội nghị Bộ trưởng của 6 z các nước thông qua với tiêu đề tổng quát là : một thế giới an ninh về nước trong thế kỷ XXI ” gồm 10 thông điệp và 6 chỉ tiêu cần đạt được đều hướng tới PTBV tài nguyên nước.
Bước vào thế kỷ XXI để thực hiện Tầm nhìn nước thế giới trong thế kỷ XXI, các nước trên thế giới đều có những đổi mới trong quản lý TNN và quản lý LVS để quản lý TNN của nước mình theo hướng PTBV. Rất nhiều kết quả nghiên cứu đá được áp dụng trong quản lý TNN các LVS trên thế giới để nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nước của LVS. Thí dụ các nghiên cứu về khai thác sử dụng nguồn nước theo hướng đa ngành, đa mục tiêu; nghiên cứu khai thác sử dụng nguồn nước trong giới hạn của ngưỡng khai thác; nghiên cứu dòng chảy môi trường và các biện pháp nhằm đảm bảo duy trì dòng chảy môi trường trong các sông chính ; các nghiên cứu và áp dụng các biện pháp để quản lý kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm, khôi phục nguồn nước của các sông bị suy thoái và cạn kiệt; nghiên cứu về thể chế chính sách để thực hiện quản lý tổng hợp tài nguyên nước phù hợp với điều kiện của mỗi nước. Nhiều nước trên thế giới đã thu được kết quả khá quan trọng trong các nghiên cứu và ứng dụng quản lý tổng hợp (QLTH) TNN theo hướng phát triển bền vững như Pháp, Nhật Bản, Úc, Srilanka, Trung Quốc, Mỹ.
Pháp đã thu được nhiều kết quả trong bảo vệ tài nguyên, môi trường nước và hệh sin thái (HST) thủy sinh sông Seine-Normandy thông qua thực hiện các biện pháp quản lý kiểm soát lượng nước thải vào sông ; vận động người dân dùng các hóa chất tẩy rửa không có phốt phát để phục hồi chất lượng nước của dòng sông đã bị ô nhiễm nghiêm trọng; chú ý bảo tồn các vùng đất ướt nhằm thu hút các loài động thực vật bản địa trước kia đã bị mai một do nước ô nhiễm, xây dựng nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt, không cho xả trực tiếp xuống đầm lầy. Nhật Bản cũng đã đạt được những thành tựu quan trọng trong nghiên cứu và áp dụng các kết quả nghiên cứu QLTHTN nước cho 5 lưu vực sông chảy qua vùng Greater Tokyo với tổng diện tích khoảng 22.600 km2 và dân số trên 27 triệu người. Thông qua việc tiến hành một loạt chương trình nghiên cứu nhằm bảo vệ môi 7 z trường nước, khai thác hiệu quả nguồn nước sông, giám sát hệ sinh thái nước và quản lý rủi ro, Nhật Bản đã khắc phục tình trạng ô nhiễm, phục hồi hệ sinh thái vốn rất phong phú và đa dạng của vùng này. Tại Úc cũng có nhiều nghiên cứu và áp dụng thành công QLTH TNN lưu vực sông Muray -Darling (Úc).
Khi lưu vực sông này phải đương đầu với những vấn đề nghiêm trọng về môi trường, sinh thái như đất bị nhiễm mặn, hệ sinh thái thủy sinh bị suy thoái. Một Ủy ban liên chính phủ và các bang có sông Muray- Darling chảy qua được thành lập và thông qua một khái niệm ngưỡng, còn gọi là “CP”, nó chính là cơ sở để thiết kế một số chính sách quản lý TNN trong trường hợp nguồn nước kha hiếm như dịch vụ thương mại nước, dòng chảy môi trường, và đảm bảo quyền sở hữu. Ngưỡng này khá linh hoạt, thay đổi theo các năm khác tùy thuộc vào nguồn nước đến, nhằm để phân phối nước hợp lý giữa 4 ban thuộc lưu vực sông trong thời đoạn khan hiếm nước. Một kết quả nghiên cứu khác liên quan đến vấn đề thể chế của LVS Murray - Darling, đó là phân vùng địa lý thủy văn để đáp ứng nhanh và có hiệu quả các yêu cầu của các bên liên quan.
Các tiểu vùng này được phân chia theo ranh giới LVS và Ban lãnh đạo của từng tiểu vùng sẽ có quyền cấp giấy phép sử dụng nước, vận hành và duy tu bảo dưỡng tất cả các công trình trong tiểu vùng mà không phải lệ thuộc vào các bên liên quan. Thái Lan có nhiều kết quả trong nghiên cứu QLTHTNN LVS Chao Phraya là một trugn tâm sản xuất lúa gạo lớn của Thái Lan và cũng là nơi đóng đô của thủ đô Bangkok với tổng dân số trong lưu vực lên tới 23 triệu người khi dòng sông này phải đối mặt với tình trạng khan hiếm nước do nhu cầu ngày càng tăng lên của các hộ dùng nước ở hạ du. Vấn đề cạn kiệt nguồn nước cũng như xung đột về nước ngày càng tăng lên khi nước ở vùng hạ lưu sông ngày càng bị ô nhiễm nước thải hỗn hợp không được xử lý chảy vào sông. Một nghiên cứu tổng thể về chia sẻ, phân bố một cách công bằng nguồn nước trong LVS cho các hộ dùng nước mà vẫn đảm bảo nhu cầu nước cho các HST hạ du đã được thực hiện, song chưa thực sự kết thúc 8 z vì còn gặp một số rào cản trong quá trình đo lường các điều kiện của lưu vực bằng hệ thống các chỉ thị được phát triển cho LVS Chao Praya.
Trên lưu vực sông Ruhna - Srilanka tình trạng nguồn nước ngày càng suy kiệt, trong khi mâu thuẫn giữa phát điện với công suất lắp máy 120MW và cung cấp nước tưới cho 52.00ha lúa hai vụ ngày càng gay gắt. Một kế hoạch QLTHTNN cho LVS Ruhuna được tiến hành bao gồm phân bổ nước tưới với những giải pháp sử dụng nước tối ưu, triệt để tiết kiệm điện để giảm công suất phát điện. Bên cạnh đó một chiến dịch vận động sự tham gia của cộng đông, đặc biệt là của phụ nữ vào chương trình trên đã được thực hiện khá hiệu quả. Trung Quốc là một quốc gia hiện có với một nền công nghiệp phát triển khá nhanh nhưng vẫn giữa sản xuất nông nghiệp như một ngành truyền thống.
Do đó chất thải từ 2 lĩnh vực sản xuất nàyđã gây ô nhiễm nặng nề môi trường nói chung và môi trường nước nói riêng ở nhiều LVS. Vì vậy, đã có nhiều nghiên cứu theo định hướng QLTHTNN nhằm giảm thiểu ô nhiễm, bảo vệ nguồn nước điển hình là kết hợp thu lệ phí phát thải ô nhiễm nguồn nước và tiền trợ cấp cho khắc phục ô nhiễm. Chính sự kết hợp hợp đã khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư xây dựng các hệ thống xử lý nước thải cũng như áp dụng công nghệ sản xuất sạch hơn. Bên cạnh đó, một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng áp lực cộng đồng cũng là một trong những biện pháp mạnh để QLTNN theo hướng PTBV.
Trong quản lý LVS, nhiều nghiên cứu QLTHTNN đã được thực hiện và thực thi có kết quả trên nhiều lưu vực sông lớn trên thế giới, tập trung vào những vấn đề như : phát triển thể chế chính sách trong quản lý tổng hợp tài nguyên môi trường lưu vực sông ; phương pháp luận và áp dụng các công cụ kỹ thuật để lập quy hoạch LVS ; nghiên cứu xây dựng mô hình cơ quan quản lý lưu vực sông phù hợp với điều kiện cụ thể của từng nước và thực hiện trong thực tế. Từ các kết quả nghiên cứu này nhiều cơ quan quản lý LVS đã được thành lập trên các lưu vực sông lớn của thế giới và hoạt động có hiệu quả nhất là ở các nước phát triển. Ví dụ, tại Tây Ban Nha và Pháp, các nhà quản lý đã tiến hành quản lý nước lưu vực trong nhiều 9 z thập kỷ. Tây Ban Nha đã có 9 Nhà chức trách quản lý lưu vực sông (Confederaciones Hidrográficas) trong hơn 75 năm, và từ năm 1964, Pháp đã có 6 Ủy ban lưu vực (COMITES de Bassin) và Cơ quan về tài nguyên nước ('Agencesde l'Eau).
Ở Đức, Hiệp hội Ruhr (Ruhrverband), là một trong những tổ chức lưu vực sông ở bang Bắc Rhine-Westphalia, được thành lập vào đầu năm 1899 như một liên minh tự nguyện của các công trình nước và sản xuất thủy điện. Các ủy ban quốc tế về nước được thành lập từ nhiều năm trước ở châu Âu, Ví dụ ở sông Rhine, sông Meuse Scheldt, Moselle và sông Sarre, và hồ Geneva. Ở Hoa Kỳ, Ủy ban quản lý sông Tennessee được thành lập vào năm 1933.