Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp có thu Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Phân tích thực trạng công tác quản lý tài chính tại Trung tâm Bảo tồn di sản Thăng Long – Hà Nội Chương 4: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại Trung tâm Bảo tồn di sản Thăng Long – Hà Nội. 3 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về quản lý tài chính tại đơn vị sự nghiệp có thu Có nhiều nghiên cứu trong nước được thực hiện nhằm xây dựng, hoàn thiện một cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công, đặc biệt là đối với đơn vị sự nghiệp có thu đáp ứng yêu cầu đổi mới, yêu cầu về tự chủ tài chính. Một số công trình nghiên cứu về công tác quản lý tài chính công, quản lý tài chính tại đơn vị sự nghiệp có thu như: - “Đổi mới quản lý tài chính ở đơn vị hành chính sự nghiệp có thu” của Phan Thị Cúc (2002). Tác giả để cập đến các nguồn kinh phí đảm bảo và các khoản chi cho đơn vị sự nghiệp có thu công lập, ngoài công lập và vấn đề đổi mới cơ chế quản lý tài chính - “Một số vấn đề cơ bản về tài chính công và cải cách tài chính công” của tác giả Bùi Thị Minh Huyền (2003).
Tác giả cuốn sách đã đề cập đến những vấn đề cơ bản về lý thuyết tài chính công; đặc trưng và vai trò của tài chính công trong phát triển kinh tế - xã hội. Bên cạnh đó cuốn sách cũng đánh giá thực trạng tài chính công ở Việt Nam và sự cần thiết phải cải cách nền tài chính công tại Việt Nam. - “Quản lý tài chính công ở Việt Nam” của tác giả Vũ Thị Nhài (2007). Tác giả đã phân tích thực trạng quản lý tài chính công ở Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp để tăng cường quản lý tài chính công trong thời kỳ mới.
- Luận án “Quản lý tài chính các trường đại học công lập ở Việt Nam” của Vũ Thị Thanh Thủy (2012). Tác giả đã đề xuất khái niệm mới về tự chủ 4 z tài chính các trường đại học công lập, khác biệt với quan điểm của nhiều chuyên gia kinh tế và nhà quản lý thực tiễn ở Việt Nam, trong đó, nhấn mạnh tự chủ tài chính đối với các trường đại học công lập nhằm mục tiêu cuối cùng là đảm bảo thu đủ bù đắp chi phí tương ứng với chất lượng đào tạo, hướng tới bền vững tài chính. Tác giả luận án đã đánh giá thực trạng quản lý tài chính các trường đại học công lập ở Việt Nam còn nhiều yếu kém, biểu hiện ở việc hiệu quả chi rất thấp, quyền tự chủ tài chính cho các trường còn nhiều bất cập. Phân tích thực trạng quản lý tài chính trong các trường đại học công lập, tác giả đã đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính các trường đại học công lập ở Việt Nam, trong đó giải pháp tăng cường quyền tự chủ tài chính các trường đại học công lập có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tăng tính thuyết phục của giải pháp, đã thiết lập điều kiện để các trường đại học công lập tự chủ tài chính.
- Luận văn “Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính trong quá trình thực hiện tự chủ ở Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội” của Bùi Thị Thanh Hương (2013). Luận văn nghiên cứu về hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại đơn vị sự nghiệp có thu trong quá trình thực hiện tự chủ, cụ thể là trường Đại học Công nghiệp Hà Nội. Luận văn đã làm rõ được một số cơ sở lý luận chung về quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp: khái niệm, vai trò và các yếu tố cấu thành của đơn vị hành chính sự nghiệp, một số nội dung về hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp. - Luận văn “Quản lý tài chính ở Nhà xuất bản chính trị Quốc gia - Sự thật” của Lưu Thị Bình (2013).
Luận văn đã phân tích và đánh giá thực trạng quản lý tài chính ở Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật, chỉ ra những vấn đề đặt ra cần giải quyết. Trên cơ sở đó tác giả đề xuất quan điểm, phương hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện hoạt động quản lý tài chính ở Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật. Bên cạnh đó luận văn cũng góp 5 z phần làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công. Các luận văn trên nghiên cứu, phân tích hoạt động tài chính của các đơn vị sự nghiệp có thu trên những khía cạnh khác nhau và theo những loại hình đơn vị khác nhau; phân tích điểm mạnh, điểm yếu của hoạt động quản lý tài chính tại đơn vị, từ đó đưa ra một số giải pháp hoàn thiện quá trình quản lý tài chính của đơn vị.
Như vậy, cho đến nay chưa có một nghiên cứu nào thực hiện một cách toàn diện về công tác quản lý tài chính tại Trung tâm bảo tồn di sản Thăng Long – Hà Nội. Do đó tác giả thực hiện đề tài “Quản lý tài chính tại Trung tâm bảo tồn di sản Thăng Long – Hà Nội” với mong muốn góp phần hoàn thiện quy trình quản lý tài chính tại Trung tâm, giúp Trung tâm ngày càng phát triển lớn mạnh hơn.2 Cơ sở lý luận về quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp có thu 1.1 Đơn vị sự nghiệp có thu 1.1 Khái niệm đơn vị sự nghiệp có thu Đơn vị sự nghiệp có thu là một loại đơn vị sự nghiệp công lập có nguồn thu sự nghiệp, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, là đơn vị dự toán độc lập, có con dấu và tài khoản riêng, tổ chức bộ máy kế toán theo quy định của luật kế toán. Đơn vị sự nghiệp có thu có các đặc điểm sau: - Những hoạt động của các đơn vị sự nghiệp có thu có tính chất xã hội để đảm bảo cho cuộc sống được bình thường. Những loại dịch vụ thông thường được hiểu là những hoạt động phục vụ không tạo ra sản phẩm mang hình thái hiện vật, còn dịch vụ mà các đơn vị sự nghiệp cung cấp là những hoạt động phục vụ nhu cầu cần thiết của xã hội, bất kể các sản phẩm được tạo ra có hình thái hiện vật hay phi hiện vật.
6 z - Việc trao đổi dịch vụ công giữa các đơn vị sự nghiệp và các tổ chức, cá nhân không thông qua quan hệ thị trường đầy đủ, nghĩa là nó không giống với các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Có những dịch vụ mà người sử dụng chỉ phải đóng phí hoặc lệ phí, có những dịch vụ thì phải trả một phần hoặc toàn bộ kinh phí. Tuy nhiên cung ứng các dịch vụ này không nhằm mục tiêu lợi nhuận. - Hoạt động của các đơn vị sự nghiệp có thu không trực tiếp phục vụ cho quản lý hành chính nhà nước, không mang tính quyền lực pháp lý như hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước.
Nó được phân biệt với hoạt động quản lý nhà nước. - Đơn vị sự nghiệp có thu có nguồn thu thường xuyên từ hoạt động sự nghiệp bởi vậy nó khác với cơ quan quản lý hành chính ở chỗ mang lại nguồn thu cho ngân sách nhà nước và được tự chủ về mặt tài chính, không phụ thuộc vào cơ chế xin cho như trước.2 Phân loại đơn vị sự nghiệp có thu * Theo khả năng đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên, quy định tại Thông tư số 71/2006/TT-BTC ngày 09/8/2006 của Bộ Tài chính, các đơn vị có thu được phân loại như sau: - Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động). - Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động thường xuyên, phần còn lại được ngân sách nhà nước cấp (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động). - Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp, kinh phí hoạt động thường xuyên do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động).
Tiêu chí để phân loại đơn vị sự nghiệp có thu là mức độ tự đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên của đơn vị sự nghiệp có thu, được xác định 7 z theo công thức sau: Mức tự đảm bảo chi phí Tổng số nguồn thu sự nghiệp hoạt động thƣờng xuyên = ______________________ x 100% của đơn vị ( %) Tổng số chi hoạt động thƣờng xuyên Đơn vị sự nghiệp có thu tự đảm bảo chi phí hoạt động gồm: - Đơn vị sự nghiệp có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên xác định theo công thức trên, bằng hoặc lớn hơn 100%. - Đơn vị sự nghiệp đã tự bảo đảm chi phí hoạt động từ nguồn thu sự nghiệp, từ nguồn ngân sách nhà nước do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước đặt hàng. Đơn vị sự nghiệp có thu tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động: Đơn vị sự nghiệp có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên xác định theo công thức trên, từ trên 10% đến dưới 100%. Đơn vị sự nghiệp có thu do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động: Đơn vị sự nghiệp có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên xác định theo công thức trên, từ trên 10% trở xuống.
* Theo đối tượng quản lý: - Đơn vị sự nghiệp có thu trực thuộc cơ quan hành chính Nhà nước như Bộ, cơ quan ngang Bộ: Đây là những đơn vị sự nghiệp hoạt động trực tiếp theo các quy định của Nhà nước và của Bộ chủ quản. Đặc điểm lớn nhất của đơn vị này là có tính linh hoạt và chủ động khá cao vì nó trực tiếp chịu sự quản lý của các Bộ, cơ quan ngang bộ. - Đơn vị sự nghiệp có thu trực thuộc một doanh nghiệp Nhà nước: Các đơn vị này thực hiện những chức năng, nhiệm vụ mà doanh nghiệp này giao cho. Tính linh hoạt của đơn vị sự nghiệp loại này không cao vì phụ thuộc không chỉ vào qui định của Chính phủ mà còn phải tuân theo các quy chế hoạt 8 z động của doanh nghiệp chủ quản.