CHƯƠNG 1: NHUNG VAN DE LY LUAN CO BAN VE QUAN LY RUIRO TRONG HOAT DONG CAP ỤNG ĐÔI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI rủi ro tín dụng. Rai ro là thuật ngữ đề cập về việc diễn ra những biến cố hoặc tình thế không mong muốn, không ồn định, và sẽ gây thiệt hại đối với ngân hàng. Những rủi ro này. có thể xuất hiện trong mọi lĩnh vực của hoạt động ngân hàng, như tín dụng và tài chính, giao dịch, chấp hành pháp luật và uy tín Trong các NHTM, hoạt động tín dụng luôn mang lại nhiều lãi ròng nhất.
nhiên, lĩnh vực này cũng tiềm ân rủi ro lớn, đòi hỏi ngân hàng phải có những giải pháp hữu hiệu, kịp thời để ngăn ngừa, hạn chế và giảm thiêu tối đa những thiệt hại có thể xảy ra. “Rui ro tin dụng được định nghĩa là nguy cơ người đi vay không thé chỉ trả tiền lãi, hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng. Điều này gây ra sự cố ảnh hưởng tới dòng chu chuyển tiền tệ và khả năng thanh toán của tổ chức tín dụng” (Hennie van Greuning ~ Sonja Brajovic Bratanovic, 2003) Theo Điều 3 của Thông tư 11⁄2011/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) quy dinh: “Rai ro tin dụng trong hoạt động ngân hang (sau day goi tắt là rủi ro) là khả năng xảy ra tôn thất đối với nợ của tô chức tín dụng, chỉ nhánh ngân hang nước ngoài do khách hàng không có khả năng trả được một phần hoặc toàn bộ nợ của mình theo hợp đồng hoặc thỏa thuận (sau đây gọi chung là thỏa thuận) với tô chức tín dụng, chỉ nhánh ngân hàng nước ngoài”. RRTD đối với KHDN là một dạng rủi ro lớn đối với NHTM và gây tôn thất đáng kể đối với NHTM.
Nó làm mắt khả năng có nguồn thu từ cho vay và liên quan trực tiếp với lãi và sau đó là vốn của ngân hàng. Đặc biệt nguồn vốn được dùng để cho vay phần lớn là từ tiền gửi tiết kiệm. Khi nợ có vấn đề tăng mạnh thì ngân hàng bắt buộc phải dùng nguồn vốn nhằm xử lý vấn đề này. Trong trường hợp trên, nếu không có giải pháp khắc phục hữu hiệu thì sẽ đây ngân hàng lâm vào.
trạng thái vỡ nợ. Ngoài ra, NHTM là tổ chức tài chính, giáp huy động vốn dư thừa để cho người thiếu hụt vay. Nguồn vốn vay này hầu như đến từ khoản tiết kiệm của cá nhân và tổ chức. Vì vậy, khi xảy ra tổn thất từ tín dụng thì chính là những khách hàng gửi tiền tại đây bị ảnh hưởng.
Ngày nay hoạt động của ngân hàng mang tính xã hội hóa cao nên một khi rủi ro tín dụng xảy ra đối với ngân hàng thì nó sẽ ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế - xã hội của cả quốc gia. Nếu có rủi ro trong hoạt động tín dụng, dù chỉ ở một ngân hàng mà không được ứng cứu kịp thời thì có thể gây phản ứng dây chuyền đe dọa đến tính an toàn toàn và ôn định của cả hệ thống ngân hàng. Từ đó sẽ gây ra những bắt ôn về kinh tế - xã hội. Phân loại rủi ro tín dụng.
Để phân loại rủi ro tín dụng, chúng ta có thể căn cứ vào hai yếu tố: nguyên nhân phát sinh rủi ro và khả năng trả nợ của khách hàng. Từ đó chúng ta có bảng sau Riii ro giao dich | |Rủi ro danh mục Rill ro tác Ri ro thanh. 'Rủi ro thanh. toán Nguôn: Tác giả Hình I.1: Các loại ro tín dụng Dựa vào nguyên nhân, có 3 loại RRTD sau: «œ _ Rủi ro giao dịch thường diễn ra bởi các sai sót trong phê duyệt hồ sơ, bao gồm ba yếu tố chính là rủi ro lựa chọn đối nghịch, rủi ro nghiệp vụ và rủi ro bảo đảm.
Rủi ro lựa chọn đối nghịch bắt nguồn từ việc lựa chọn khách vay một cách không toàn diện như việc quyết định các phương án vay một cách vội vàng và qua loa; lựa chọn phương án thu công nợ không cân thận. Rủi ro đảm bảo chủ yếu liên quan đến yếu tố tạo an toàn cho khoản vay bao gồm những nội dung trong thỏa thuận cho vay như bên bảo đảm và TSĐB, thời hạn đảm bảo và lãi suất. Rủi ro nghiệp vụ liên quan đến việc quản lý khoản vay, quản lý hoạt động cấp tín dụng. « _ Rủi ro danh mục phát sinh do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, gồm hai loại: rủi ro nội tại và rủi ro tập trung.
Rủi ro nội tại bắt nguồn từ đặc điểm hoạt động của khách hàng; đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng, do. vậy không thể triệt tiêu được rủi ro này. Rủi ro tập trung xảy ra do sự thiếu đa dạng các dịch vụ do NHTM ban hành. Ví dụ, khi ngân hàng tiến hành tập trung cho vay vào một lĩnh vực cụ thể hoặc một sản phẩm đặc thù.
Đây là loại rủi ro gây hậu quả lớn đối với NHTM. «œ_ Rủi ro tác nghiệp xảy ra do cán bộ xử lí hệ thống không đẩy đủ hoặc bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài. Dựa vào khả năng trả nợ, có hai loại sau. © Rui ro thanh khoản xảy ra khi NHTM chưa thu xếp được tiền đề trả cho khách hàng.
« _ Rủi ro thanh toán là rủi ro khi khách hàng vay không thể thanh toán. m của rủi ro tin dung Rai ro tại ngân hàng xuất hiện khi NHTM không thu hồi được nợ của khoản vay. RRTD tồn tại ở mọi giai đoạn và có tính đa dạng, phức tạp cao và có tính tất yếu. trong quá trình cung cấp tín dụng cho khách hàng.
Trong việc cấp tín dụng cho KHDN, rủi ro thường gây ra cho ngân hàng tổn thất lớn vì KHDN chủ yếu đề nghị các khoản vay có số tiền lớn và thời hạn vay bao. gồm ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Hơn nữa, quyết định cấp tín dụng cho KHDN. chủ yếu dựa trên phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Khi doanh nghiệp. cố ý khai báo thông tin sai lệch, không đáng tin cậy và chưa được kiểm toán sẽ ảnh hưởng đến quyết định cấp tín dụng của NHTM. KHDN thường khác nhau về đối tượng vay vốn (khác nhau về lứa tuổi, ngành nghề, trình độ, nhu cầu.); về mục đích sử dụng vốn (khác nhau trong tiêu dùng, sản xuất,. Để quản trị được, NHTM cần phải có những có quy tắc cho vay hợp lý tuỳ theo ngành nghề, trình độ của khách hàng đi vay mà quyết định quy mô cấp tín dụng.
Ngoài ra, để đảm bảo rủi ro, các khoản cấp tín dụng cho KHDN thường cần TSDB, với giá trị tối thiểu bằng giá trị khoản vay như một khoản “bảo hiểm” cho vay. Tác động của rủi ro tin dung Đối với ngân hàng cho vay: Thứ nhất, NHTM sẽ bị giảm thu nhập khi gặp phải rủi ro tín dụng. Trong tinh huống này, NHTM vẫn sẽ phải trả những chỉ phí nhằm quản lý số vốn vay, kể cả lúc không có doanh thu tương xứng. Điều này gây ra một tình trạng tài chính không cân bằng và ảnh hưởng xấu đến doanh thu của NHTM.
Bên cạnh đó RRTD cũng sẽ gây. tổn hại uy tín và thương hiệu NHTM. Nếu NHTM không đảm bảo chất lượng tín dụng thì đối tác và nhà đầu tư sẽ thiếu sự tin tưởng vào năng lực của NHTM. Điều này sẽ liên quan đến tôn thất thị trường bao gồm mắt lợi nhuậ lầu tư và suy giảm năng lực hút vốn đầu tư.
Thứ hai, Rủi ro không mong đợi có thê có những tác động tiêu cực đáng kề đến khả năng thanh toán của NHTM. NHTM có thể phải thu hẹp quy mô hoạt động và giảm cung cấp dịch vụ, gây ra những vấn đề tài chính nghiêm trọng và đe dọa đến NH, thậm chí gây phá sản Thứ ba, rủi ro có thể ảnh hưởng xấu đến uy tín của ngân hàng. Khi khách hàng mắt lòng tin vào NHTM, họ có xu hướng thay đổi và rút lui khỏi các giao dịch kinh doanh. Mất uy tín gây thiệt hại vô cùng lớn và không thể đo lường được đến cho ngân hàng.
NHTM có thê mắt đi nhiều cơ hội kinh doanh quan trọng và làm giảm khả năng. tương tác và hợp tác với KHDN trong thời gian tới Cuối cùng, rủi ro không kiểm soát được khiến ngân hàng có nguy cơ phá sản. 'Khi khách hàng không tin tưởng và bắt đầu rút tiền một cách hàng loạt, NHTM không. chủ động về dòng tiền và nguồn vốn.
Trong tình huống xấu nhất, việc mắt khách hàng. và phá sản có thể xảy ra. Hậu quả không chỉ dừng lại ở ngân hàng bị phá sản mà còn lan rộng đến các NH khác và gây ảnh hưởng tiêu cực đến toàn bộ nền kinh tế. Vi vay, RRTD cần được quản lí chặt chẽ đề phòng ngừa một cách kịp thời, để giữ ôn định hoạt động của NH nói riêng và cả nền kinh tế nói chung.
Đối với nền kinh tế: NHTM được coi như "mạch máu" của nền KT, giúp đưa các nguồn vốn vào lưu thông đề ôn định hệ thống kinh tế. Do đó, rủi ro xảy ra làm ảnh hưởng đến cả ngân hàng và gây rồi loạn trong cả nền kinh tế - xã hội. Trong trường hợp tồi tệ, khủng hoảng có thể xảy ra với vô số hậu quả nghiêm trọng. Vì vậy, việc phòng ngừa và giới hạn rủi ro tín dụng là vấn đề cấp thiết Một số NHTM như Á Châu, Ocean Bank, Maritime Bank và SCB đã trở thành những ví dụ rõ ràng về tác động của RRTD trong năm qua.
Điều này đã tạo ra những vấn đề nghiêm trọng và có thể gây ảnh hưởng lớn đến hệ thống ngân hàng và nền kinh tế. Nếu không có sự can thiệp và ứng phó kịp thời của NHNN, toàn bộ các Ngân hang Thương mại (NHTM) có thê đối mặt với nguy cơ sụp đồ, và sau đó không chỉ gây tác động lớn đến ngành NH mà còn lan rộng sang các ngành kinh tế khác và gây. ra sự rồi loạn với xã hội. Hậu quả của sự đổ vỡ các NHTM là vô cùng lớn và có nguy cơ tạo thêm tổn thất to lớn cho nền kinh tế.
Điều này sẽ đưa đến sự suy giảm kinh tế và gia tăng lạm phát làm suy giảm đầu tư và tiêu dùng, cũng như việc làm giảm sự tin tưởng của dân chúng đối với doanh nghiệp. Bên cạnh đó, sự bất ôn về nền kinh tế cũng sẽ tác động. tiêu cực đối với cơ hội đầu tư và cạnh tranh, qua đó gây suy giảm sự cạnh tranh của đất nước đối với hoạt động đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và gặp khó đối với việc khôi phục đà tăng trưởng kinh tế.