phần mở đầu và kết luận, bố cục dự kiến luận văn gồm 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan về tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng của NHTM. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý rủi ro tín dụng của Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam – chi nhánh Tây Tiền Giang. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả và năng lực quản lý rủi ro tín dụng của Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam – chi nhánh Tây Tiền Giang. 6 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG VÀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NHTM 1.1 Khái niệm về tín dụng ngân hàng NHTM, theo định nghĩa của Luật các tổ chức tín dụng 2010, đƣợc thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng bao gồm nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua ngân hàng và các hoạt động khác nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Nhƣ vậy, có thể thấy, hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động chính giúp NHTM thực hiện chức năng trung gian tài chính quan trọng bậc nhất trong nền kinh tế. Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán (Hồ Diệu, 2001). Trên cơ sở tiếp cận ở chủ thể cấp tín dụng là ngân hàng, theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, tín dụng đƣợc định nghĩa là ngân hàng “thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ vay mƣợn giữa ngân hàng với tất cả các cá nhân, tổ chức và các doanh nghiệp khác trong xã hội.
Không chỉ là một hình thức tín dụng với bản chất là quan hệ dịch chuyển vốn trực tiếp từ nơi tạm thời thừa sang nơi tạm thời thiếu, tín dụng ngân hàng là quan hệ dịch chuyển vốn gián tiếp thông qua một tổ chức trung gian là ngân hàng. Tín dụng ngân hàng cũng thể hiện đầy đủ bản chất của một hình thức tín dụng chính là quan hệ vay mƣợn có hoàn trả cả vốn và lãi sau một thời gian nhất định, là quan hệ chuyển nhƣợng tạm thời quyền sử dụng vốn và là quan hệ bình đẳng cả hai bên cùng có lợi. Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, ngân hàng đóng vai trò là ngƣời đi vay và ngƣời cho vay. Khi ngân hàng đi vay của xã hội sử dụng nhiều phƣơng thức nhƣ mở tài 7 khoản thu hút tiền gửi với các kỳ hạn khác nhau, phát hành các loại chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, vay theo hợp đồng vay mƣợn hoặc ký kết các hiệp định vay nợ,.Khi ngân hàng cho vay đối với xã hội thì chủ yếu sử dụng phƣơng thức cấp tín dụng theo tài khoản cho vay hoặc theo tài khoản kết hợp giữa tài khoản cho vay và tài khoản tiền gửi để đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng.
Cả khi đi vay và cho vay, ngân hàng thƣờng là ngƣời đặt ra các điều kiện tín dụng cho khách hàng chấp nhận. Ngƣời cho vay nếu chấp thuận các điều kiện của ngân hàng thì chủ động cho vay và nhận về những giấy chứng nhận. Ngƣời đi vay nếu đồng ý với các điều kiện do ngân hàng đặt ra thì ký hết hợp đồng vay mƣợn và phải thực hiện nghiêm túc hợp đồng đã ký kết. Nhƣ vậy, tín dụng ngân hàng là việc NHTM chuyển giao quyền sử dụng tài sản cho bên nhận tín dụng (các tổ chức, cá nhân) trong một khoảng thời gian nhất định theo thỏa thuận, với nguyên tắc hoàn trả gốc và lãi vô điều kiện khi đến hạn thanh toán.2 Phân loại tín dụng ngân hàng Có rất nhiều cách phân loại tín dụng ngân hàng dựa vào các căn cứ khác nhau tùy theo mục đích nghiên cứu.
Tuy nhiên ngƣời ta thƣờng phân loại theo một số tiêu thức sau (Hồ Diệu, Tín dụng ngân hàng, NXB Thống Kê, 2001, tr 20-22): 1. Phân chia theo thời gian: Tín dụng ngắn hạn, trung hạn, dài hạn Việc phân chia này cũng ảnh hƣởng lớn và có ý nghĩa quan trọng với ngân hàng - Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn dƣới một năm, thƣờng đƣợc sử dụng vào nghiệp vụ thanh toán, cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời về vốn lƣu động của các doanh nghiệp hay cho vay phục vụ nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng của cá nhân. - Tín dụng trung hạn: có thời hạn từ 1 đến 5 năm, đƣợc dùng để cho vay vốn phục vụ nhu cầu mua sắm tài sản cố định, cải tiến đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh. - Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, đƣợc sử dụng để cung cấp vốn cho xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn.
Thƣờng thì tín dụng trung và dài hạn đƣợc đầu tƣ để hình thành vốn cố định và một phần vốn tối thiểu cho hoạt động sản xuất. Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay: - Tín dụng sản xuất và lƣu thông hàng hoá: Là loại tín dụng đƣợc cung cấp cho các cá nhân hoặc doanh nghiệp để họ tiến hành sản xuất và kinh doanh, lƣu thông hàng hóa. 8 - Tín dụng tiêu dùng: Là loại tín dụng đƣợc cấp phát cho cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng thƣờng đƣợc dùng để mua sắm nhà cửa, xe cộ, các thiết bị gia đình….Tín dụng tiêu dùng ngày càng có xu hƣớng tăng lên. Căn cứ vào tính chất đảm bảo của các khoản cho vay: - Tín dụng có bảo đảm: là loại hình tín dụng mà các khoản cho vay phát ra đều có tài sản tƣơng đƣơng thế chấp, có các hình thức nhƣ: cầm cố, thế chấp, chiết khấu và bảo lãnh.
- Tín dụng không có bảo đảm: là loại hình tín dụng mà các khoản cho vay phát ra không cần tài sản thế chấp mà chỉ dựa vào tín chấp. Loại hình này thƣờng đƣợc áp dụng với khách hàng truyền thống, có quan hệ lâu dài và sòng phẳng với ngân hàng, khách hàng này phải có tình hình tài chính lành mạnh và có uy tín đối với ngân hàng nhƣ trả nợ đầy đủ, đúng hạn cả gốc lẫn lãi, có dự án sản xuất kinh doanh khả thi, có khả năng hoàn trả nợ. Trong nền kinh tế thị trƣờng việc phân loại tín dụng ngân hàng theo các tiêu thức trên chỉ có ý nghĩa tƣơng đối. Khi các hình thức tín dụng càng đa dạng thì cách phân loại càng chi tiết.
Phân loại tín dụng giúp cho việc nghiên cứu sự vận động của vốn tín dụng trong từng loại hình cho vay và là cơ sở để so sánh, đánh giá hiệu quả kinh tế của chúng. Đặc trƣng cơ bản của hoạt động tín dụng ngân hàng: Hoạt động tín dụng của NHTM là một lĩnh vực hết sức đa dạng và phức tạp. Để có thể tìm hiểu về nó, chúng ta cần nghiên cứu những nét đặc trƣng quan trọng sau (Hồ Diệu, Tín dụng ngân hàng, NXB Thống Kê, 2001, tr 19-20): - Lòng tin: Tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng ngân hàng bao gồm hai hình thức là cho vay (bằng tiền) và cho thuê (bất động sản và động sản). Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, vì vậy ngƣời cho vay khi chuyển giao tài sản cho ngƣời đi vay sử dụng phải có cơ sở để tin rằng ngƣời đi vay sẽ trả đúng hạn – đây là yếu tố hết sức cơ bản trong quản trị tín dụng.
Yếu tố lòng tin tuy vô hình nhƣng không thể thiếu trong quan hệ tín dụng, đây là yếu tố bao trùm trong hoạt động tín dụng, là điều kiện cần cho quan hệ tín dụng phát sinh. - Thời hạn: Khác với các quan hệ mua bán thông thƣờng khác, quan hệ tín dụng chỉ trao đổi quyền sử dụng giá trị khoản vay chứ không trao đổi quyền sở hữu khoản vay. Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, tiền vay đƣợc cấp trên cơ sở cam kết hoàn trả vô 9 điều kiện. Về khía cạnh pháp lý, những văn bản xác định quan hệ tín dụng nhƣ hợp đồng tín dụng, khế ƣớc thực chất là lệnh phiếu (promissory note), trong đó bên đi vay cam kết hoàn trả vô điều kiện cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
- Tính hoàn trả: Đây là đặc trƣng thuộc về bản chất vận động của tín dụng và là dấu ấn để phân biệt phạm trù tín dụng với các phạm trù kinh tế khác. Giá trị hoàn trả thông thƣờng phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nói cách khác là ngƣời đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài vốn gốc. Sau khi kết thúc một vòng tuần hoàn của tín dụng, hoàn thành một chu kỳ sản xuất trở về trạng thái tiền tệ, vốn tín dụng đƣợc ngƣời đi vay hoàn trả cho ngƣời cho vay kèm theo một phần lãi nhƣ đã thoả thuận. Một mối quan hệ tín dụng đƣợc gọi là hoàn hảo nếu đƣợc thực hiện với đầy đủ các đặc trƣng trên, nghĩa là ngƣời đi vay hoàn trả đƣợc đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn.2 RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NHTM 1.1 Khái niệm rủi ro tín dụng NHTM Hoạt động tín dụng là hoạt động quan trọng nhất, có quy mô lớn nhất của các NHTM (Phan Thị Thu Hà, 2007).
Tuy nhiên, do việc cấp tín dụng dựa trên sự tín nhiệm về thiện chí trả nợ và khả năng trả nợ của khách hàng nên hoạt động tín dụng cũng là hoạt động tiềm ẩn rủi ro cao, gắn liền với rủi ro tín dụng mà ngân hàng không thể loại trừ.Lange định nghĩa: “Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không thực hiện đƣợc đầy đủ cả về số lƣợng và thời hạn”.Fitch: “Rủi ro tín dụng là loại rủi ro xảy ra khi ngƣời vay không thanh toán đƣợc nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ.