CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÁC NGHIỆP VÀ QUẢN LÝ RỦI RO TÁC NGHIỆP 1.1 Rủi ro tác nghiệp 1.1 Khái niệm rủi ro tác nghiệp Theo định nghĩa của Basel II, rủi ro tác nghiệp là khả năng xảy ra tổn thất trực tiếp hoặc gián tiếp do yếu tố con người (cẩu thả, gian lận), sự yếu kém trong hệ thống công nghệ, thông tin, sự sơ hở, yếu kém trong các quy định nghiệp vụ (không đầy đủ hoặc không hoạt động) ; hoặc xuất phát từ các sự kiện bên ngoài gây ra. Rủi ro tác nghiệp Quy trình, Sự kiện Con người quy định Hệ thống bên ngoài Hệ thống CNTT hay Rủi ro do các sự kiện hoặc Không đầy hệ thống truyền thông hành động bên ngoài c1ó Cẩu thả, đủ, sơ hở, không đầy đủ hoặc những tác động xấu lên hoạt gian lận, sơ không phù không hoạt động, do động kinh doanh nằm ngoài xuất hợp không có hoặc không khả năng kiểm soát lập tức đủ dữ liệu của NH Sơ đồ 1.1: Các yếu tố gây ra rủi ro tác nghiệp Nguồn: Tài liệu tập huấn QLRR cơ bản 2011 của BIDV Rủi ro tác nghiệp trong hoạt động ngân hàng là khả năng xảy ra tổn thất trực tiếp hoặc gián tiếp do yếu tố con người (cẩu thả, gian lận), sự yếu kém trong hệ thống công nghệ, thông tin, sự sơ hở, yếu kém trong các quy định nghiệp vụ (không đầy đủ hoặc không hoạt động) ; hoặc xuất phát từ các sự kiện bên ngoài gây ra đối với các hoạt động kinh doanh của ngân hàng.2 Phân loại rủi ro tác nghiệp 1.1 Rủi ro liên quan đến mô hình tổ chức, cán bộ và an toàn nơi làm việc - Về mô hình tổ chức: rủi ro liên quan đến mô hình tổ chức thường xảy ra do những nguyên nhân sau: + Chính sách, sắp xếp, bố trí, luân chuyển cán bộ chưa hợp lý. + Thực hiện các nghĩa vụ với người lao động chưa đúng với quy định, thoả ước lao động. + Mô hình tổ chức không phù hợp (quá đơn giản hoặc quá phức tạp,…).
- Về bản thân cán bộ: + Trình độ nghiệp vụ, năng lực, kinh nghiệm của cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu công việc; + Chưa chấp hành đúng nội quy lao động hoặc vi phạm kỷ luật ; + Tư cách đạo đức chưa tốt, chưa có tinh thần trách nhiệm với công việc; + Giao tiếp, ứng xử với khách hàng, đồng nghiệp chưa đúng mực,… - Về an toàn nơi làm việc: nơi làm việc chưa đảm bảo an toàn dẫn đến phát sinh các khoản bồi thường tai nạn lao động.2 Rủi ro liên quan đến cơ chế, chính sách, quy định Những rủi ro liên quan đến cơ chế, chính sách quy định chủ yếu do những nguyên nhân sau: - Những quy trình, qui định thiếu hoặc chưa đầy đủ, chưa chặt chẽ, chưa cụ thể, có kẽ hở tạo điều kiện cho kẻ xấu lợi dụng, gây tổn thất cho ngân hàng. - Những văn bản, qui định có sự chồng chéo, khó thực hiện. - Những văn bản, qui định có nội dung chưa đúng với cơ chế chính sách; quy định của pháp luật hiện hành,.3 Rủi ro liên quan đến gian lận nội bộ - Cán bộ ngân hàng tự thực hiện các hành vi gian lận Trang 3 - Cán bộ ngân hàng cấu kết với bên ngoài để thực hiện các hoạt động phạm pháp nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản, huỷ hoại uy tín của ngân hàng,… 1.4 Rủi ro liên quan đến yếu tố từ bên ngoài - Khách hàng thực hiện các hành vi gian lận, lừa đảo, trộm cắp. - Thực hiện giao dịch với các cá nhân, tổ chức bị cấm vận hoặc có tên trong danh sách bị nghi ngờ, tội phạm,.
- Do có sự thay đổi về các văn bản, quy định của Nhà nước, Chính phủ.5 Rủi ro liên quan đến quá trình xử lý công việc Rủi ro liên quan đến quá trình xử lý công việc xảy ra do trong quá trình thực hiện nghiệp vụ, các cán bộ vi phạm các trường hợp sau: - Thực hiện nghiệp vụ không được ủy quyền, vượt thẩm quyền - Thực hiện không đúng, không đầy đủ chức trách nhiệm vụ được giao, không bảo vệ lợi ích chính đáng tối đa cho Ngân hàng trong điều kiện có thể thực hiện được - Không tuân thủ quy định, qui trình,… 1.6 Rủi ro liên quan đến hệ thống công nghệ thông tin Rủi ro liên quan đến CNTT thường xảy ra do các nguyên nhân sau: - Lỗi phần cứng - Lỗi phần mềm - Lỗi đường truyền - Phần mềm không có tính năng bảo mật hoặc tính bảo mật chưa cao - Phần mềm không đầy đủ chức năng cần thiết - Phần mềm không đáp ứng đủ các yêu cầu nghiệp vụ,… 1.7 Rủi ro liên quan đến thiệt hại tài sản Rủi ro liên quan đến thiệt hại tài sản thường do: - Phá hoại, khủng bố - Thiên tai, động đất, bão lũ, hoả hoạn,.3 Đo lường rủi ro tác nghiệp Để đo lường RRTN, căn cứ theo tiêu chí định tính và định lượng, các NH dựa vào các tài liệu sau: Định tính: - Xếp hạng của kiểm toán nội bộ - Khuyến cáo của kiểm toán, thanh tra bên ngoài - Thông tin báo chí Định lượng: - Các chỉ số rủi ro chính (KRIs) - Xếp hạng mức độ rủi ro - Ma trận rủi ro tác nghiệp Bảng 1.1 : Chỉ tiêu đo lường rủi ro tác nghiệp Sự cố Chỉ tiêu đo lường RRTN Số lượng gian lận nội bộ Gian lận Số lượng gian lận bên ngoài Khiếu nại và tranh chấp của Số lượng khiếu nại và tranh chấp khách hàng Số lượng khiếu nại vượt quá X ngày Tỷ lệ % vị trí bỏ trống Vị trí công việc bị bỏ trống Số lượng vị trì bỏ trống vượt quá X ngày Số sản phẩm được đưa ra nhưng không hoàn thành như Chính sách sản phẩm dự kiến Số sản phẩm triển khai chậm Số lượng đối với từng mặt nghiệp vụ/sản phẩm Lỗi, sai sót Số vi phạm quá giới hạn Khối lượng giao dịch Xử lý giao dịch Số lượng giao dịch quá hạn trong quá trình xử lý CNTT Số lượng và thời gian ngừng hệ thống theo kế hoạch Trang 5 Số lượng và thời gian ngừng hệ thống không theo kế hoạch Số vi phạm/phạt/cảnh cáo vi phạm quy định của cơ Vi phạm quy định quan/luật pháp Nguồn: KPMG International 2007 1.4 Vốn bù đắp cho rủi ro tác nghiệp 1.1 Khái niệm vốn bù đắp cho rủi ro tác nghiệp Vốn bù đắp cho rủi ro tác nghiệp là lượng vốn cần thiết để bù đắp cho các tổn thất về rủi ro tác nghiệp.2 Các phương pháp xác định vốn bù đắp cho rủi ro tác nghiệp Phương pháp chỉ số cơ bản (The Basic Indicator Approach- BIA): Các ngân hàng sử dụng phương pháp chỉ số cơ bản phải duy trì vốn tự có cho rủi ro tác nghiệp tương ứng bằng một tỷ lệ cố định nào đó (ký hiệu là alpha) của lợi nhuận gộp hàng năm bình quân trong thời gian 3 năm. Công thức tính: KBIA = GI x α Trong đó: KBIA: Lợi nhuận gộp hàng năm bình quân trong thời gian 3 năm trước đó Α=15%: tỷ lệ này do ủy ban Basel đưa ra, phản ánh mối liên hệ giữa lượng vốn yêu cầu chung của toàn ngành với chỉ số chung của toàn ngành. Phương pháp chỉ số cơ bản tương đối đơn giản, dễ áp dụng trong các ngân hàng có quy mô và hoạt động kinh doanh tương đối phức tạp. Tuy nhiên, khi áp dụng phương pháp này, mức vốn cho rủi ro tác nghiệp tương đối cao, do vậy các ngân hàng dường như hướng đến phương pháp khác có lợi hơn.
Phương pháp chuẩn hoá (The Standard Approach- TSA): Trang 6 - Các hoạt động ngân hàng được chia thành 8 dòng dịch vụ: tài chính doanh nghiệp, thương mại & bán hàng, ngân hàng bán lẻ, ngân hàng thương mại, thanh toán, dịch vụ đại lý, quản lý tài sản, và môi giới bán lẻ. - Trong mỗi dòng dịch vụ, lợi nhuận gộp là một chỉ số phản ánh quy mô hoạt động của dòng dịch vụ đó. - Công thức tính: KTSA = (GI1-8 x β1-8) Trong đó: KTSA: yêu cầu về vốn theo phương pháp chuẩn hoá GI1-8: lợi nhuận gộp hàng năm bình quân của ba năm gần nhất, được xác định như trong phương pháp chỉ số cơ bản nêu trên, cho mỗi một trong 8 dòng dịch vụ. β1-8: là tỷ lệ phần trăm cố định, do uỷ ban Basel quy định, phản ánh mối quan hệ giữa lượng vốn yêu cầu với lợi nhuận gộp của mỗi một mảng nghiệp vụ.
Chi tiết các giá trị của β như sau: Hệ số beta cho mỗi mảng nghiệp vụ: Tài chính doanh nghiệp 18% Thương mại và bán hàng 18% Ngân hàng bán lẻ 12% Ngân hàng thương mại 15% Thanh toán 18% Dịch vụ đại lý 15% Quản lý tài sản 12% Môi giới bán lẻ 12% Cũng giống như phương pháp cơ bản, phương pháp chuẩn hoá có ưu điểm đơn giản, dễ tính toán, việc xác định vốn cho rủi ro tác nghiệp đã được tính đến cho từng mảng nghiệp vụ của ngân hàng. Tuy nhiên, phương pháp này cũng có hạn chế việc tính Trang 7 vốn cho rủi ro tác nghiệp không dựa vào mức độ rủi ro tác nghiệp của ngân hàng, hơn nữa, việc phân chia hoạt động của ngân hàng thành 8 mảng nghiệp vụ cũng không đơn giản. Phương pháp đo lường tiên tiến (Advanced Mesurement Approach- AMA): Trong phương pháp đo lường tiên tiến, yêu cầu về vốn bắt buộc sẽ bằng độ lớn của rủi ro theo kết quả đo lường của hệ thống đo lường rủi ro tác nghiệp của ngân hàng, với điều kiện hệ thống đó đạt được các tiêu chuẩn định tính và định lượng đối với phương pháp đo lường tiên tiến như trình bày dưới đây. Phương pháp đo lường tiên tiến có ưu điểm là xác định vốn cho rủi ro tác nghiệp dựa trên mức độ rủi ro của ngân hàng, do vậy, việc tính vốn cho rủi ro tác nghiệp sẽ chính xác hơn so với phương pháp chỉ số cơ bản và phương pháp chuẩn hoá.
Tuy nhiên, phương pháp đo lường tiên tiến có hạn chế là nó đòi hỏi các ngân hàng phải có dữ liệu về rủi ro tác nghiệp đúng chuẩn từ 3 đến 5 năm, đồng thời các ngân hàng phải đáp ứng được các tiêu chuẩn định tính và định lượng.3 Tiêu chuẩn áp dụng Tiêu chuẩn định tính: Khi áp dụng phương pháp chuẩn hoá hoặc phương pháp đo lường tiên tiến, ngân hàng cần chứng minh với cơ quan quản lý ngân hàng rằng, ít nhất : + Hội đồng quản trị và Ban điều hành cao cấp của ngân hàng, tuỳ từng trường hợp, đóng vai trò tích cực trong việc giám sát hoạt động quản lý rủi ro tác nghiệp.