Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC PHÒNG, CHỐNG TAI NẠN THƯƠNG TÍCH CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI THEO HƯỚNG PHỐI HỢP VỚI GIA ĐÌNH VÀ CÁC CƠ QUAN CHỨC NĂNG ĐỊA PHƯƠNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về đặc điểm tâm lý của trẻ 5-6 tuổi Đối với trẻ trong độ tuổi từ 5-6 tuổi là giai đoạn não bộ của trẻ phát triển tương đối ổn định, gần tương đương với não bộ của người trưởng thành, nhưng không có nghĩa là trẻ trong độ tuổi này có suy nghĩ, hành động như những người trưởng thành. Ở giai đoạn này là giai đoạn chuẩn bị cho sự thay đổi môi trường từ vui chơi sang môi trường học tập để có thể làm quen với bậc tiểu học sắp tới.
Lúc này, trẻ không những học tập mà còn kiểm soát được hoạt động của cơ thể với những động tác phức tạp như: chạy nhảy, đá bóng, nhào lộn… Bên cạnh đó, cũng giúp cho nhận thức, ngôn ngữ, trí tuệ, cảm xúc của trẻ được phát triển mạnh mẽ kích thích tính tò mò, hứng thú, say mê ở trẻ. Đây cũng là bước đầu để trẻ có thể thích nghi với môi trường học tập ở bậc Tiểu học.[1] Tai nạn thương tích gây ra những thương tổn trên cơ thể người thường bất ngờ, không lường trước được, có thể xảy ra mọi lúc, mọi nơi, mọi độ tuổi nhất là ở lứa tuổi mầm non. Trẻ thường hiếu động, thích tò mò, nghịch ngợm và đặc biệt là chưa có nhận thức rõ ràng về mức độ tổn thương, hay chưa có đầy đủ kiến thức, kỹ năng, phòng tránh nên rất dễ bị TNTT trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày nói chung. Tuy nhiên phần lớn các TNTT đều có thể phòng tránh được nếu giáo viên, các bậc cha, mẹ học sinh và cộng đồng xác định được nguyên nhân từ đó có biện pháp làm giảm thiểu các nguyên nhân dẫn đến TNTT của trẻ nhỏ.
Việc làm quen với các môn học để hình thành và xây dựng cho các em các kỹ năng tự bảo vệ như: Kỹ năng an 8 toàn khi tự chơi; Kỹ năng tránh bị bắt cóc; Kỹ năng tìm lối thoát hiểm; Kỹ năng tránh bị xâm hại cơ thể; Kỹ năng tham gia giao thông; Kỹ năng ứng xử khi bị lạc… sẽ giúp trẻ tự tin, chủ động biết cách xử lí mọi tình huống trong cuộc sống và quan trọng hơn là khơi gợi những khả năng tư duy sáng tạo, biết phát huy thế mạnh của trẻ. Nghiên cứu về giáo dục phòng, chống TNTT cho trẻ Báo cáo của WHO và UNICEF (2008), hơn 2.000 trẻ em tử vong mỗi ngày vì thương tích không chủ ý và hằng năm có thêm hàng chục triệu trẻ em trên thế giới đã phải vào bệnh viện vì thương tích và hậu quả gây ra đối với các em là các thương tật lâu dài, thậm chí là vĩnh viễn. “Bên cạnh các chương trình giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ, cũng có nhiều tác phẩm hữu ích khác, bổ sung hoàn thiện hơn về kỹ năng này cho người học” [2]. Tác giả Yoon Yeo Hong (2011) với tác phẩm 45 cách dạy trẻ tự bảo vệ mình, đã trình bày đan xen giữa lý thuyết và hướng dẫn thực hành, giúp trẻ nhận biết về các mối nguy hiểm, nâng cao cảnh giác và ý thức tự bảo vệ an toàn cho chính mình.
Sâu sắc hơn nữa, tác giả đã hướng dẫn trẻ cách đối phó hoặc thoát khỏi nguy hiểm tạm thời. Những tình huống được sử dụng minh hoạ trong sách rất gần gũi với cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của trẻ. Ngôn từ dễ hiểu, cụ thể, không giáo điều, nhiều hình ảnh minh họa, rất phù hợp với khả năng nhận thức, tiếp thu của trẻ em trong lứa tuổi mầm non”. Trong cuốn sách Raising the kids who can protect them self nhóm của tác giả Debbie và Mike Gardnert, đã chia sẻ cho chúng ta các phương pháp giáo dục trẻ xác định và thoát khỏi những tình huống nguy hiểm; cách nhận dạng những đặc điểm của vị trí thoát hiểm, ở nhiều địa hình khu vực khác nhau từ sân chơi đến những nơi mua sắm; và hướng dẫn trẻ đưa ra những quyết định thông minh về sự tự bảo vệ an toàn cho bản thân khi không có người lớn bên cạnh [3].
Tác giả Phan Tú Anh (2013), trong công trình NCKH Biện pháp giáo 9 dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi, đã khẳng định được tầm quan trọng của nhiệm vụ giáo dục kỹ năng tự bảo vệ bản thân ở trẻ mẫu giáo. Tác giả đã phân tích từ thực trạng giáo dục kỹ năng tự bảo vệ tại các nhà trường mầm non, từ đó đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao chất lượng của HĐGD kỹ năng tự bảo vệ ở trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở mẫu giáo [4]. Các nghiên cứu trên cho thấy người lớn cần trang bị cho trẻ nhỏ những kiến thức, kỹ năng cơ bản nhất để tự bảo vệ mình từ khi trẻ bắt đầu hình thành những ý thức đầu tiên. Nghiên cứu về QLGD phòng chống TNTT tại nhà trường Giáo dục phòng, chống TNTT cho trẻ ở trường mầm non chính là việc giáo dục cho trẻ những kỹ năng sống, kỹ năng tự bảo vệ…phòng chống những tai nạn đáng tiếc có thể xảy ra.
Tại Việt Nam cũng có một số công trình nghiên cứu đã đề cập đến QLGD phòng, chống TNTT cho trẻ tại các nhà trường như sau: -Tác giả Nguyễn Thụy Vũ (2017), Quản lý hoạt động phòng chống TNTT cho trẻ ở các trường mầm non, Tạp chí Khoa học Quản lý Giáo dục, Số 9 năm 2017. Trong đó, Công trình bàn luận về vấn đề phòng chống tại nạn thương tích trẻ em ở tầm vĩ mô (quốc gia, đa ngành) cũng như ở tầm vi mô - vấn đề quản lý hoạt động phòng chống TNTT cho trẻ ở trường mầm non [5]. - Tác giả Bùi Thị Tường Vi (2019), Quản lý hoạt động đảm bảo an toàn về phòng tránh TNTT cho trẻ tại các trường mầm non thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Tác giả đã khẳng định trường mầm non là nơi tập trung số lượng lớn trẻ em, đảm bảo an toàn phòng tránh TNTT cho trẻ trong trường mầm non là một vấn đề hết sức quan trọng.
Nếu trẻ không được đảm bảo an toàn phòng tránh TNTT sẽ gây nên những hậu quả nghiêm trọng ảnh hưởng đến thể chất và tinh thần của trẻ. Vì vậy, trong công tác GDMN bao gồm nuôi dưỡng - chăm sóc - giáo dục cho trẻ, thì HĐGD phòng tránh TNTT cần được quan tâm hàng đầu. Bài viết trình bày kết quả nghiên cứu thực trạng công tác quản lý 10 hoạt động đảm bảo an toàn về phòng tránh TNTT cho trẻ tại các trường mầm non thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương và đề xuất một số biện pháp cụ thể ngăn chặn các nguy cơ gây mất an toàn và phòng tránh TNTT cho trẻ trong nuôi dưỡng - chăm sóc- giáo dục trẻ mầm non tại địa phương [6]. - Nhóm tác giả Nguyễn Thị Thu Huyền - Nguyễn Thị Mỹ Trinh (2020), với công trình “Kĩ năng phòng, tránh TNTT cho trẻ mầm non” đã đề cập đến vấn đề TNTT gây ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe, tính mạng và chất lượng cuộc sống của con người ở mọi lứa tuổi, đặc biệt là đối với trẻ mầm non.
Có rất nhiều nguyên nhân khách quan hay chủ quan gây ra tình trạng này, nhưng việc thiếu kĩ năng phòng, tránh nó là nguyên nhân sâu xa nhất. Để hạn chế nguy cơ mắc và tử vong do TNTT ở trẻ em thì việc tìm hiểu về TNTT là điều cần thiết. Bài viết trình bày một số cơ sở lí luận về kĩ năng phòng, tránh TNTT cho trẻ mầm non như khái niệm, đặc điểm, cấu trúc, các yếu tố ảnh hưởng đến kĩ năng phòng, tránh TNTT của trẻ mầm non [7]. Như vậy, nhiều công trình đã đề cập đến giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5 – 6 tuổi cũng như giáo dục phòng, chống TNTT cho trẻ trong trường mầm non.
Tuy nhiên, các nội dung nghiên cứu chỉ chú trọng về lý thuyết việc lồng ghép giáo dục tại trường, chưa chú trọng việc giáo dục phòng, chống TNTT cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi theo hướng phối hợp với gia đình và các CQCN địa phương. Xét về khía cạnh giáo dục phòng, chống TNTT cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo hướng phối hợp với gia đình và các CQCN địa phương thì chưa có công trình nghiên cứu nào. Vì vậy, tác giả chọn đề tài “QLGD phòng, chống TNTT cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi theo hướng phối hợp với gia đình và các CQCN địa phương ở các trường mầm non huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương” làm vấn đề nghiên cứu. Một số khái niệm cơ bản 1.
Tai nạn thương tích 11 Theo Bộ Y tế, TNTT được định nghĩa như sau: Tai nạn thương tích là một sự kiện để lại kết quả không tốt, xảy ra bất ngờ ngoài ý muốn, do một số tác nhân bên ngoài gây nên các tổn thương, thương tích cho cơ thể về thể chất hay tâm hồn của nạn nhân. Tai nạn thương tích được phân thành 2 loại: (1) “Tai nạn không chủ định” thường không có nguyên nhân rõ ràng, khó có thể đoán trước được khi nào sẽ xảy ra như: ngã, bỏng, ngộ độc, chết đuối…[8] (2) “Tai nạn có chủ định” như: chiến tranh, bạo lực, tự tử, bạo hành… thường có nguyên nhân tác động rõ ràng và có thể phòng tránh được vì có thể dự đoán thời gian sẽ xảy ra.[8] Khái niệm “thương tích” là tình trạng thương tổn của cơ thể ở các cấp độ khác nhau gây nên do tiếp xúc liên tục với các nguồn nhiệt (có thể là các tác nhân cơ học, nhiệt, từ trường, bức xạ nhiệt, tia phóng xạ.) vượt mức chịu đựng của cơ thể hoặc do cơ thể thiếu hụt các yếu tố quan trọng đối với sự sống còn như thiếu oxy, mất nhiệt. Những thương tích có thể lý giải được và có thể được phòng ngừa.[8] Tuy nhiên, khá là khó để có thể phân định rõ ràng giữa hai khái niệm “tai nạn và thương tích”, vì vậy hiện nay trong các văn bản, tài liệu của Việt Nam, người ta vẫn sử dụng phổ biến cụm từ "Tai nạn thương tích". Phòng, chống TNTT Theo nghĩa Từ điển Tiếng Việt: + Phòng (nghĩa động từ): lo liệu để có biện pháp tránh, ngăn ngừa hoặc chuẩn bị đối phó với điều không hay có thể xảy ra [9, tr.
+ Chống (động từ): chủ động làm cho mình khỏi phải tiếp xúc hoặc khỏi phải chịu tác động trực tiếp của cái gì đó không hay, không thích [9, tr.