Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THỰC HIỆN NHIỆM VỤ PHỔ CẬP GIÁO DỤC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ Ở CÁC XÃ ĐẠT CHUẨN NÔNG THÔN MỚI VÙNG ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về phổ cập giáo dục THCS Giáo dục ngày nay đã khẳng định được tầm quan trọng trong quá trình phát triển KT-XH ở mỗi quốc gia. Ở các nước phát triển như Đức, Anh, Pháp (thuộc châu Âu) và các nước như Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Singapo (thuộc châu Á) đã cho thấy: Mỗi quốc gia thực hiện hiệu quả quá trình CNH- HĐH đều phải xuất phát từ phát triển sự nghiệp giáo dục, thực hiện tốt giáo dục sẽ nâng cao chất lượng nhân lực, nâng cao dân trí và bồi dưỡng nhân tài.
UNESCO đã nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục trong thế kỷ XXI: “Giáo dục là chìa khóa tiến tới một thế giới tốt đẹp hơn; vai trò của giáo dục là phát triển tiềm năng của con người; giáo dục là đòn bẩy mạnh mẽ nhất chúng ta cần có để tiến vào tương lai” [19]. Các nước muốn phát triển nhanh và bền vững thì xác định giáo dục giữ vai trò trọng yếu cùng khoa học công nghệ. Theo chiều dài phát triển lịch sử các quốc gia thực hiện thành công quá trình CNH-HĐH phải xuất phát từ phát triển nâng cao trình độ dân trí mà trước hết là tiến hành PCGD, đó là nền tảng của đầu tư nhân lực. Ở nhiều quốc gia như Pháp, Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Anh,…đã và đang hoàn thành công tác PCGD tiểu học và THCS một cách ngoạn mục.
[8] Ở Việt Nam, vấn đề phát triển ĐNGV thực hiện phổ cập giáo dục được đề cập từ lâu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu". Trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ sau ngày dành được chính quyền, Người nói: “Muốn giữ vững nền độc lập, muốn làm cho nước mạnh, dân giàu, mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, 8 bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà và trước hết là phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ”. Người dạy: "Các thầy giáo có nhiệm vụ nặng nề và vẻ vang là đào tạo cán bộ cho dân tộc. Thầy thi đua dạy, trò thi đua học" [12].
Về vấn đề PCGD, Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng đã nói: "Có giáo dục phổ thông tốt, đi đến chỗ PCGD phổ thông, đến lúc nào đó, tất cả mọi người Việt Nam đều có trình độ hiểu biết phổ thông đến mức cần thiết, thì như vậy ta sẽ có tất cả. Nhất định dân tộc Việt Nam sẽ có những bước tiến phi thường về mọi mặt" [7]. Trong những năm qua, đã có nhiều công trình đề cập đến PCGD tại Việt Nam nhưng chủ yếu tập trung PCGD tiểu học, PCGD THCS như tác giả Phan Nam trong đề tài "Thực trạng và biện pháp cho việc phổ cập THCS trên địa bàn thành phố Huế". Một số bài nghiên cứu đăng trên các báo như Nguyễn Văn Đản với bài báo "PCGD THCS - những giá trị và thách thức" [6], Phạm Thị Kim Anh với bài "Phổ cập THCS ở Việt Nam-thực trạng và những thách thức" [1], tác giả Lê Văn Phớt với bài "Những thuận lợi và khó khăn trong việc thực hiện PCGD THCS” [15]… đều nêu lên nhận định chung về những khó khăn của công tác PCGD THCS và đặt ra vấn đề: bằng cách nào giải quyết những khó khăn, vường mắc về CSVC, đội ngũ GV, nguồn kinh phí để tiếp tục thực hiện đảm bảo chương trình chống mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học, thực hiện giáo dục THCS đảm bảo chất lượng, đúng tiến độ.
Luận án của Nguyễn Sỹ Thư (2005): “Những biện pháp nâng cao chất lượng ĐNGV THCS ở các tỉnh Tây Nguyên đáp ứng yêu cầu PCGD THCS” tập trung nghiên cứu vấn đề phát triển chất lượng ĐNGV THPT, phát triển và xây dựng cơ cấu ĐNGV áp dụng vào thực tiễn quá trình PCGD THCS góp phần đào tạo nguồn nhân lực cho các tỉnh Tây Nguyên [18]. Tác giả Tăng Văn Chút (2001), “Thực trạng, điều kiện và biện pháp thực hiện phổ cập giáo giục THCS tại một số tỉnh thành phía Nam”, đề tài 9 cấp Bộ, mã số B99-50-12, Viện Nghiên cứu giáo dục TP. Hồ Chí Minh, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra trong giai đoạn CNH-HĐH đất nước ý nghĩa của PCGD THCS có tầm quan trọng nhằm nâng cao dân trí và phát triển KT XH; phân tích, đánh giá thực trạng PCGD THCS ở một số tỉnh thành phía Nam, từ đó đánh giá kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân kết quả trên, từ đó đưa ra biện pháp thực hiện PCGD THCS các tỉnh thành phía Nam cho đến năm 2010 [5]. Tác giả Tô Xuân Lợi (2012), nghiên cứu “Biện pháp duy trì bền vững kết quả PCGD THCS ở huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn hiện nay”, kết quả nghiên cứu cho thấy thực trạng công tác PCGD THCS ở huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh và đề xuất 8 biện pháp có tính khả thi và tính cần thiết [11].
Để thực hiện đúng tiến độ và đạt được hiệu quả của công tác PCGD nói chung, PCGD THCS nói riêng, nhiều tác giả đều cho rằng: đội ngũ giáo viên là yếu tố quan trọng. Các nghiên cứu về quản lý phổ cập giáo dục THCS Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 04/11/2013 đã nêu: “Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, NL công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho HS (HS). Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lí tưởng, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Hoàn thành việc xây dựng chương trình giáo dục phổ thông giai đoạn sau năm 2015.
Bảo đảm cho HS có trình độ THCS, có tri thức phổ thông nền tảng, đáp ứng yêu cầu phân luồng mạnh sau THCS, THPT, cần tiếp cận nghề nghiệp và chuẩn bị cho giai đoạn học sau phổ thông có chất lượng. Nâng cao chất lượng PCGD, thực hiện giáo dục bắt buộc 9 năm từ sau năm 2020” [2]. Tác giả Nguyễn Thị Hồng Thanh (2019) với bài báo “Thực trạng quản lý công tác PCGD THPT trên địa bàn thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình 10 Phước”, Tạp chí giáo dục, tr.100-105, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra: công tác PCGD còn nhiều khó khăn và bất cập nên cần khắc phục sớm; quá trình đầu tư trang thiết bị, CSVC cho dạy học và trường lớp chưa tương xứng với điều kiện phát triển KT-XH thành phố; quy mô ĐNGV còn thiếu thừa cục bộ, chưa đáp ứng yêu cầu của giáo dục; quá trình đổi mới phương pháp, hình thức và nội dung dạy học còn chậm trễ. Từ những khó khăn này tác giả đã đề xuất 5 biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lí PCGD THPT tại TP.
Tác giả Hà Thị Hường (2013) với đề tài “Biện pháp quản lý thực hiện PCGD THCS ở huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên”, kết quả nghiên cứu của luận văn đã chỉ ra khái niệm cơ bản như PCGD, PCGDTH, quản lý PCGDTH; quan điểm của Đảng và các văn bản hướng dẫn về PCGD, PCGDTH; Nội dung quản lý phổ cập giáo dục tiểu học ở huyện Phú Lương có đề xuất là: “Tổ chức tuyên truyền, vận động nâng cao ý thức trong CĐ; Phát huy vai trò, trách nhiệm của BCĐ PCGD cấp huyện, cấp xã; xây dựng, quản lý và phát triển mạng lưới cơ sở giáo dục; quản lý, bố trí đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; tăng cường quản lý chất lượng dạy học; huy động các nhân lực xây dựng trường đạt tiêu chuẩn quốc gia và các điều kiện khác; hoàn thiện chính sách đối với PCGDTH” [9]. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nêu trên đã đề cập đến vai trò của hoạt động PCGD, PCGD THCS, nội dung quản lý PCGD THCS,. Tuy nhiên, còn thiếu các công trình nghiên cứu có tính hệ thống về quản lý PCGD THCS. Chúng tôi nhận thấy, đây là vấn đề cần tiếp tục được quan tâm nghiên cứu, do vậy chúng tôi lựa chọn đề tài “Quản lý thực hiện nhiệm vụ PCGD trường THCS ở các xã đạt chuẩn nông thôn mới vùng đặc biệt khó khăn huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái” để nghiên cứu.
Những khái niệm cơ bản của đề tài 1. Phổ cập giáo dục, Phổ cập giáo dục THCS * Phổ cập giáo dục Theo Bách khoa toàn thư Việt Nam: “PCGD là tổ chức việc dạy học nhằm nâng cao toàn thể hay một tỷ lệ cao TV trong xã hội ở một độ tuổi nhất định, đều có một trình độ học vấn nhất định”. Khi pháp luật đã quy định đối tượng, độ tuổi và trình độ PCGD, trách nhiệm và nghĩa vụ của xã hội và cá nhân thì PCGD trở thành chế độ bắt buộc (cưỡng bức). PCGD cũng có nghĩa là hoạt động giáo dục mang tính tổ chức chung của xã hội giúp người trong độ tuổi quy định đạt được trình độ văn hóa nhất định, từ đó giúp mọi người có cơ hội tham gia đóng góp cho xã hội, cộng đồng và cá nhân.
Ở một khía cạnh khác, có thể hiểu, PCGD là quá trình tổ chức hoạt động dạy và học như thế nào để toàn thể TV trong xã hội đến một độ tuổi nhất định đạt được một trình độ ĐT nhất định (theo số năm học và theo bậc học). Hoặc PCGD là việc Nhà nước định ra một mức trình độ HT tối thiểu bắt buộc người dân phải đạt được trong một khung tuổi nhất định, đối với mỗi ĐP phải đạt được mức tỷ lệ tối thiểu số người dân có trình độ giáo dục phổ cập và số đơn vị cơ sở phải đạt được chuẩn PCGD. Trong PCGD có chế độ PCGD phổ thông và PCGD nghề nghiệp. Thực ra thuật ngữ phổ thông cũng hàm ý PC, vì phổ thông là cái chung nhất, cái CT nhất mà mọi người đều cần phải có để sống và lao động trong xã hội dù họ ở cương vị nào.
PCGD theo từng mức độ đã trở thành một nhiệm vụ cơ bản của HT giáo dục đào tạo ở tất cả các quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng. PCGD là đòi hỏi tất yếu của quá trình phát triển xã hội. Thời hạn và trình độ PCGD cao hay thấp còn tùy thuộc vào khả năng yêu cầu của xã hội, của mỗi 12 đất nước trong từng thời kỳ phát triển. Đồng thời PCGD còn phụ thuộc vào bản chất, môi trường, kinh tế, chính trị của mỗi chế độ xã hội, mỗi nhà nước khác nhau.