Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý phát triển CTĐT đại học ngành Công nghệ đa phương tiện trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4. Chương 2: Thực trạng quản lý phát triển CTĐT ngành CN ĐPT tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông trong bối cảnh Cách mạng Công nghiệp 4. Chương 3: Các giải pháp quản lý phát triển CTĐT ngành CN ĐPT tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông trong bối cảnh cách mạng Công nghiệp 4. 12 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NGÀNH CÔNG NGHỆ ĐA PHƯƠNG TIỆN TRONG BỐI CẢNH CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1.1 Phát triển chương trình đào tạo đại học và chương trình đào tạo ngành Công nghệ đa phương tiện trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.1 Phát triển chương trình đào tạo đại học Xu hướng chung, các nhà nghiên cứu đang đi theo tiếp cận phát triển CTĐT đáp ứng yêu cầu xã hội (Nguyễn Vũ Bích Hiền [38], Phạm Thị Huyền [42], Trần Khánh Đức [46], Lưu Xuân Mới [28], Phạm Thị Hương [41], Nguyễn Thanh Sơn [36] [37].
Cách tiếp cận này gắn với quan niệm “người học là trung tâm” hay còn được gọi là tiếp cận theo năng lực/chuẩn đầu ra. Hiện nay, Bộ GD&ĐT đã và đang đặt ra yêu cầu với các cơ sở đào tạo trong việc xây dựng “chuẩn đầu ra” cho các CTĐT dựa theo Khung trình độ quốc gia VQF [6]. Phát triển CTĐT dựa trên chuẩn đầu ra là cách tiếp cận hiện đại, đáp ứng nhu cầu của đơn vị sử dụng lao động. Theo đó, chuẩn đầu ra sẽ là cơ sở để xây dựng và phát triển CTĐT nhằm thực hiện mục tiêu đó.
Nội dung CTĐT, cấu trúc chương trình, phương pháp dạy và học, hình thức kiểm tra đánh giá trong CTĐT đều phải hướng tới “chuẩn đầu ra” và phát huy được tối đa năng lực người học [6]. Trong một số nghiên cứu hiện nay trên thế giới về phát triển CTĐT trình độ đại học đều cho thấy rằng mô hình đào tạo CDIO là phương pháp xây dựng và phát triển CTĐT phối hợp giữa phương pháp tiếp cận năng lực và kết quả đầu ra [60, 66, 68][57, 75]. Trong tài liệu nghiên cứu “Tư duy lại cách thức đào tạo kỹ sư theo tiếp cận CDIO” của tác giả Edward F. Crawley (2009) [58], cho rằng phương pháp phát triển CTĐT theo tiếp cận CDIO hướng đến việc đào tạo SV biết bao quát việc Hình thành ý tưởng (Conceive), Thiết kế (Design), Triển khai (Implement) và Vận hành (Operate) các sản phẩm và hệ thống có tính phức tạp, có giá trị gia tăng, trong môi trường hiện đại, làm việc theo nhóm.
Đào tạo theo cách tiếp cận CDIO sẽ giúp người học phát triển toàn diện với các “kỹ năng chuyên môn của ngành đào tạo” và “kỹ năng mềm/kỹ năng chuyển đổi” để có thể thích ứng hiệu quả với môi trường làm việc luôn thay đổi, từ đó giúp nhà trường thu hẹp được khoảng cách giữa đào tạo và yêu cầu của đơn vị sử dụng SV tốt nghiệp. 13 Trong các nghiên cứu trong nước về phát triển CTĐT có đề cập khá nhiều đến phương pháp phát triển CTĐT theo tiếp cận CDIO trong một số ngành đào tạo như CNTT, quản trị kinh doanh, điện tử viễn thông [46],[40], [13],[11, 15]. Dự án “Phát triển giáo dục đại học định hướng nghề nghiệp ứng dụng ở Việt Nam- POHE” (2016) để cận đến việc phát triển CTĐT theo định hướng ứng dụng nghề nghiệp theo tiếp cận CDIO. Theo đó, CTĐT được phát triển dựa trên khung năng lực của người học sau khi tốt nghiệp của mỗi ngành theo từng trình độ đào tạo.
Khung năng lực này được xác định dựa trên hồ sơ nghề nghiệp và năng lực theo vị trí công việc, được xác định bởi sự tham gia của nhiều bên liên quan (bên sử dụng lao động, bên cung cấp nhân lực (cơ sở đào tạo) và cơ quan quản lý nhà nước. Cách tiếp cận này được nhìn nhận là đáp ứng được nhu cầu và đòi hỏi của thị trường lao động [5]. Trong các nghiên cứu về phát triển CTĐT trình độ đại học trong bối cảnh CMCN 4.0 trên thế giới đều cho rằng phát triển CTĐT tiếp cận năng lực đã và đang hiện hữu như là một xu thế toàn cầu và tất yếu để đáp ứng yêu cầu của CMCN 4.0, với mục tiêu là trang bị cho người học những năng lực để đóng góp tối ưu cho sự phát triển trong thế kỷ 21 nói chung và trong CMCN 4. Các khái niệm, thuật ngữ xây dựng và phát triển dựa trên năng lực như đào tạo dựa trên năng lực (Competency-Based Education- CBE) và đào tạo dựa trên kết quả (Outcomes- Based Education) được trình bày trong một số công trình nghiên cứu Wim Kouwenhoven (2009) “Phát triển CTĐT dựa trên năng lực trình độ đại học: Kinh nghiệm tại một số nước châu phi” [100], L.Jeganathan (2018) “Khung chương trình đào tạo đối với đào tạo kỹ sư 4.
Trong nghiên cứu của L.Jeganathan cùng các cộng sự [76] và báo cáo của Uỷ ban châu Âu về giáo dục đại học [51] đã đề xuất khung năng lực đối với kỹ sư công nghệ 4.0 và khung chương trình chung cho đào tạo kỹ sư 4. Trong đó nhấn mạnh đến định hướng phát triển CTĐT theo tiếp cận liên ngành và hội tụ của các ngành kỹ sư hiện nay. Chuẩn đầu ra CTĐT là tập hợp những năng lực và kỹ năng cốt lõi mà SV cần đạt được sau khi tốt nghiệp. Các năng lực và kỹ năng này được xây dựng dựa trên những yêu cầu và vấn đề mà người kỹ sư sẽ phải thực hiện được trong thực tế nghề nghiệp.2 Phát triển chương trình đào tạo khối ngành kỹ sư công nghệ và ngành Công nghệ Đa phương tiện Cho đến nay trên thế giới, vấn đề phát triển CTĐT khối ngành công nghệ nói chung và ngành Công nghệ đa phương tiện nói riêng được các tác giả quan tâm nghiên cứu, cụ thể là: Trong tài liệu nghiên cứu của các tác giả L.Jeganathan và cộng sự (2018) [76], Mmantsetsa Marope cùng các cộng sự (2019)[82] , PwC (2020) [89], Mohamand Nasir (2018) [83] đã đề xuất hệ thống khung năng lực cần có đối với chương trình đào tạo kỹ sư 4.0 để thích ứng với yêu cầu của CMCN 4.
Các khung năng lực này được hình thành dựa trên sự tham chiếu từ nhu cầu thị trường lao động để làm cơ sở xác định chuẩn đầu ra dự kiến đối với SV tốt nghiệp. Trong công trình “Nghiên cứu về định hướng đổi mới của chương trình đào tạo trình độ đại học về nghệ thuật truyền thông kỹ thuật số”của Qing Hue Deng (2016) [59], đã đề xuất phương pháp phát triển CTĐT theo “Module”. Theo đó, mục tiêu của CTĐT là đào tạo SV có khả năng sử dụng các nền tảng CNTT để phát triển tri thức, quản trị tri thức, lan toả và thương mại hoá tri thức và vận dụng tri thức trong xu thế của nền công nghiệp tri thức. Trên cở sở mục tiêu đó, CTĐT hướng đến việc hình thành các năng lực cho SV bao gồm: Năng lực phân tích, thiết kế và sáng tạo ra các hệ thống kỹ thuật số, kỹ năng sử dụng các phần mềm hiện đại và các kỹ năng mềm.
Cấu trúc CTĐT được phân chia theo 02 cấp độ: Cấp độ kiến thức nền tảng và cấp độ ứng dụng nghề nghiệp theo các lĩnh vực: đồ hoạ hình động số, thiết kế tương tác đa phương tiện, mạng truyền thông và cơ sở dữ liêu. Phương pháp học tập chú trọng sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành. Trong công trình nghiên cứu “Thiết kế chương trình đào tạo về phương tiện truyền thông kỹ thuật số - Những thách thức và nguyên tắc học tập” [102]” của Yue-Ling Wong đã chỉ ra những thách thức trong việc xác định khung CTĐT ngành CN ĐPT: Xác định phạm vi nội dung CTĐT, sự cân bằng giữa lý thuyết và ứng dụng trong CTĐT. Trên cơ sở các vấn đề này tác giả đề ra xuất 02 phương pháp tiếp cận để xử lý là: phương pháp tiếp cận liên ngành trong tổ chức nội dung CTĐT theo 03 module: 01 module cơ bản và 02 module nâng cao.
Mỗi module sẽ chú trọng vào các các khái niệm và kỹ năng dựa trên các phần mềm kỹ thuật số. Phương pháp học tập dựa trên nguyên lý học tập cơ bản là “xây dựng cách học cho SV (How Student learn)”. 15 Trong các nghiên cứu của Min Wu (2005) và Joanna Napieralska cùng cộng sự (2015) [81] [85] đã đề cập đến đề cập đến phương pháp đào tạo ĐPT theo định hướng làm dự án liên ngành theo nhóm đối với SV. Cách tiếp cận này nhằm cụ thể hoá sự gắn kết giữa lý thuyết và thực hành trong CTĐT ngành ĐPT.
Theo đó, GV sẽ dạy cho SV những khái niệm cơ bản, sau đó SV sẽ được yêu cầu thực hành theo nhóm trên phòng Lab nhóm đối với SV[81]. Công trình nghiên cứu “Phân tích Giáo trình Truyền thông Kỹ thuật số với Phương pháp ISM” (2011) có đưa ra phương pháp mô hình hóa cấu trúc diễn giải (Interpretive Structural Modeling Method, ISM) để xác định lại mối quan hệ giữa các môn học, từ đó đưa ra hình thức phân cấp và chỉ ra chính xác trình tự chương trình học nhằm thiết lập một cấu trúc kiến thức, lý thuyết và kỹ năng hoàn chỉnh cho CTĐT [70]. Trong các tài liệu về chương trình đào tạo ngành Công nghệ đa phương tiện tại một số trường đại học trên thế giới cho thấy chương trình đào tạo được phát triển trên các yếu tố như sau: CTĐT đào tạo theo định hướng ứng dụng nghề nghiệp, có sự gắn kết chặt chẽ với lĩnh vực Công nghiệp sáng tạo trong việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao về phát triển các loại hình sản phẩm đa phương tiện, khung năng lực nghề nghiệp là cơ sở để phát triển chuẩn đầu ra chương trình đào tạo thông qua việc phân tích và khảo sát thế giới nghề nghiệp trong lĩnh vực Công nghiệp sáng tạo, các phương pháp học tập như: học tập dựa trên vấn đề (Problem based learning), học tập dựa trên dự án (Project based learning) được áp dụng xuyên suốt trong chương trình đào tạo và gắn với các vấn đề thực tế để SV hình thành được những năng lực nghề nghiệp [59, 65, 73, 79, 81, 96, 98, 101].