CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN LÝ NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái niệm nợ xấu của NHTM Trung gian tài chính là các tổ chức đóng vai trò hỗ trợ luân chuyển vốn từ chủ thể thừa vốn sang chủ thể thiếu vốn trong hệ thống tài chính mỗi quốc gia. Trong hệ thống trung gian tài chính, NHTM có vai trò quan trọng nhất do số lượng lớn, mạng lưới trải rộng cùng với sự đa dạng về sản phẩm, dịch vụ tài chính cung cấp cho nền kinh tế (Bùi Diệu Anh và cộng sự, 2013). Cùng với sự phát triển không ngừng của NHTM nên có nhiều đinh nghĩa khác nhau về NHTM. NHTM, theo Bùi Diệu Anh và cộng sự (2013), là tổ chức trung gian tài chính được phép thực hiện toàn bộ các hoạt động ngân hàng gồm nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản và những dịch vụ khác nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Những khái niệm trên cho thấy NHTM là chủ thể thực hiện luân chuyển vốn trong nền kinh tế với các hoạt động cốt lõi liên quan đến tiền tệ. Ngân hàng huy động vốn từ chủ thể thừa và chuyển vốn cho chủ thể thiếu sử dụng thông qua hoạt động cấp tín dụng vì mục tiêu lợi nhuận. Hoạt động tín dụng của NHTM, theo Lê Thị Tuyết Hoa và cộng sự (2013), được hiểu là NHTM chuyển giao quyền sử dụng tài sản cho khách hàng trong một khoảng thời gian xác định; sau khoảng thời gian đó người vay hoàn trả lại gốc và lãi theo thỏa thuận. Điều này cho thấy hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động cơ bản, phản ánh chức năng trung gian tín dụng của ngân hàng trong nền kinh tế.
Thông qua việc chuyển giao vốn cho người vay sử dụng, ngân hàng nhận lại một khoản tiền lãi như là chi phí sử dụng vốn vay của khách hàng. Đây chính là nguồn thu nhập lãi chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu tổng thu nhập của ngân hàng, đặc biệt là những ngân hàng truyền thống lấy tín dụng làm hoạt động chủ yếu (Bùi Diệu Anh và cộng sự, 2013). Tuy là hoạt động mang lại phần lớn nguồn thu nhập nhưng hoạt động tín dụng lại tiềm ẩn rủi ro tín dụng cao đối với bên cấp tín dụng và không thể khắc phục triệt để hoàn toàn. Trong đó, rủi ro tín dụng, theo Ủy ban Giám sát hoạt động ngân hàng BCBS, xảy ra khi khách hàng vay vốn không trả được nợ gốc và lãi theo thỏa thuận ban đầu.
Điều này có 2 nghĩa là rủi ro tín dụng phát sinh khi người vay chậm trả nợ so với thời gian thỏa thuận hoặc không trả được nợ theo như cam kết trong hợp đồng tín dụng. Tương ứng với từng cấp độ mà rủi ro tín dụng được phản ánh thông qua các khoản nợ quá hạn hoặc là nợ xấu. Mặc dù được nhiều nghiên cứu đề cập nhưng khái niệm nợ xấu vẫn chưa thống nhất, do phụ thuộc vào quy định của mỗi quốc gia và phương thức để phân loại. Nợ xấu hay còn gọi là bad debt, theo Miskin (2010) là khái niệm dùng để chỉ những khoán cho vay quá thời hạn trả gốc và lãi từ 90 ngày trở lên.
Theo BCBS, nợ xấu là khoản nợ không còn khả năng hoàn trả với 1 trong 2 điều kiện xảy ra: khi ngân hàng nhận thấy khách hàng không có khả năng trả nợ mặc dù chưa có động thái nào thu hồi khoản vay, hoặc là người vay đã quá hạn trả nợ từ 90 ngày trở lên. Những định nghĩa này cho thấy, nợ xấu là các khoản vay chưa trả nợ theo thỏa thuận với ngân hàng từ 90 ngày trở lên hoặc có nhiều dấu hiệu cho thấy khách hàng không trả được nợ theo đánh giá của ngân hàng. Điều này được đề cập trong các nghiên cứu trước về nợ xấu như trong nghiên cứu của của Nguyễn Hồng Vinh (2017), Đinh Thị Thanh Vân (2012), Đinh Mai Long (2015)… 1.2 Phân loại nợ xấu của NHTM Hoạt động tín dụng có vai trò quan trọng trong việc tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng nhưng lại tiềm ẩn nhiều rủi ro. Do đó, để kiểm soát rủi ro trong mức độ cho phép, ngân hàng cần thực hiện phân loại nợ nhằm đánh giá chất lượng tín dụng.
Thông qua phân loại nợ, ngân hàng sẽ tính toán trích lập dự phòng rủi ro tín dụng, xác định vốn kinh tế cũng như xác định các biện pháp khác để đối phó với rủi ro. Tùy theo quy định của mỗi quốc gia mà việc phân loại nợ theo các tiêu chí định tính và định lượng có sự khác nhau. Dựa trên tổng hợp của Bholat và cộng sự (2016), Nguyễn Thị Hồng Vinh (2017), quy định về phân loại nợ xấu của một số quốc gia được trình bày trong bảng 1.1: Phân loại nợ của các nước trên thế giới Số lượng Quốc gia Ghi chú nhóm vay Argentina 6 Các khoản vay bao gồm: (i) Nợ đủ tiêu chuẩn; (ii) Nợ đặc biệt theo sát; (iii) Nợ dưới tiêu chuẩn; (iv) Nợ có rủi ro cao; (v) Nợ không thể thu hồi dựa trên các tiêu chí kĩ thuật Brazil 9 Các khoản vay bào gồm: (i) Khoản nợ quá hạn 90 ngày; (ii) Nợ không quá 90 ngày nhưng được xếp loại E, F, G hoặc H, theo các quy định phân loại rủi ro; (iii) nợ tái cơ cấu. Phân loại nợ theo 9 nhóm AA, A, B, C, D, E, F, G hoặc H Trung Quốc 5 Theo các quy tắc giám sát, phân loại nợ bao gồm nợ đủ tiêu chuẩn, nợ cần chú ý, nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ mất vốn Đức 4 Bao gồm: cho vay không rủi ro, cho vay có dấu hiệu rủi ro, nợ có dấu hiệu không thu hồi, nợ xấu Indonesia 5 Nợ xấu là các khoản vay phân loại là nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn Hàn Quốc 5 Bao gồm: nợ đủ tiêu chuẩn, nợ cần chú ý, nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn.
Nợ xấu là khoản nợ phản ánh khả năng trả nợ suy giảm và rủi ro phá sản cao Mexico 7 7 nhóm được phân loại dựa trên rủi ro quốc gia, rủi ro tài chính, rủi ro ngành và lịch sử thanh toán Nga 5 Các khoản vay bao gồm (i) Nợ đủ tiêu chuẩn – không có rủi ro tín dụng; (ii) Nợ dưới chuẩn – rủi ro tín dụng trung bình; (iii) Nợ khó đòi – rủi ro tín dụng đáng kể Nguồn: Bholat và cộng sự (2016) (trích từ Nguyễn Thị Hồng Vinh, 2017) 4 Tại Việt Nam, theo quy định của NHNN, dư nợ của các NHTM được chia thành 5 nhóm trong Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/1/2013 của NHNN quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Theo đó, 5 nhóm nợ gồm: nhóm 1 – nợ đủ tiêu chuẩn, nhóm 2 – nợ cần chú ý, nhóm 3 – nợ dưới tiêu chuẩn, nhóm 4 – nợ nghi ngờ, nhóm 5 – nợ có khả năng mất vốn. Quy định phân loại nợ thành 5 nhóm nợ của NHNN Việt Nam là phù hợp với thông lệ quốc tế theo khyến nghị của BCBS và các quốc gia phát triển khác như Singapore, Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nga.3 Tác động của nợ xấu Ảnh hưởng của nợ xấu được đề cập đến trong nhiều nghiên cứu như nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoài Phương (2012), Trần Huy Hoàng và Nguyễn Thế Hà (2020). Nợ xấu được ví như là cục máu đông của nền kinh tế bởi nó không chỉ ảnh hưởng đến ngân hàng, khách hàng mà còn đến cả nền kinh tế.1 Tác động của nợ xấu đến khách hàng Việc khách hàng vay vốn và mất khả năng trả nợ dẫn đến tình trạng chậm trả từ 90 ngày trở lên là dấu hiệu cho thấy khách hàng khó có thể trả được nợ.
Điều này sẽ tác động đến lịch sử tín dụng của khách hàng, làm cho việc tiếp cận vốn từ các tổ chức tín dụng chính thức sẽ bị hạn chế. Nguyên nhân là do các tổ chức tín dụng theo quy định cũng như trong quá trình phân tích khách hàng đều đánh giá khách hàng phát sinh nợ xấu thuộc nhóm rủi ro cao. Không những chỉ gây khó khăn cho quá trình tiếp cận vốn mà chi phí sử dụng vốn vay của khách hàng cũng tăng lên do những rủi ro tiềm ẩn của khách hàng. Điều này, xét tổng thể, sẽ gây ra khó khăn cho khách hàng tiếp cận và sử dụng vốn để sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng.2 Tác động của nợ xấu đến NHTM Do ngân hàng là trung gian tài chính, huy động vốn để cấp tín dụng nên nợ xấu sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động ngân hàng.
Nợ xấu làm cho ngân hàng tăng chi phí quản lý khoản vay, tăng trích lập dự phòng rủi ro tín dụng, giảm lợi nhuận, căng thẳng thanh khoản, thậm chí thua lỗ dẫn đến phá sản. 5 - Gia tăng chi phí của ngân hàng: Việc phát sinh nợ xấu làm cho các ngân hàng phải tốn kém chi phí theo dõi khoản nợ, nhắc nợ và các chi phí khác liên quan đến việc xử lý khoản vay. Đặc biệt theo quy định, các khoản nợ xấu có tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng cao. Do đó, nếu nợ xấu của ngân hàng lớn thì các khoản trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tăng, làm cho chi phí của ngân hàng tăng.
- Căng thẳng thanh khoản của NHTM: Nguồn vốn để các NHTM cấp tín dụng chủ yếu là vốn huy động từ các thành phần trong nền kinh tế với cam kết hoàn trả vô điều kiện. Trong quá trình hoạt động, ngân hàng sẽ cân đối thu chi nhằm đảm bảo khả năng thanh khoản. Nếu khách hàng chậm trả nợ theo thỏa thuận sẽ làm thay đổi kế hoạch quản trị vốn của ngân hàng, dẫn đến tình trạng căng thẳng thanh khoản. Tỷ lệ nợ xấu, quy mô nợ xấu lớn và không có biện pháp hiệu quả để quản trị thanh khoản, nếu người gửi tiền ồ ạt kéo đến rút tiền sẽ làm cho ngân hàng phá sản.
- Giảm lợi nhuận của ngân hàng: Việc gia tăng chi phí trong khi thu nhập từ lãi không như dự kiến sẽ làm cho ngân hàng giảm lợi nhuận. Quá trình quản lý nợ xấu nếu không được cải thiện, nợ xấu không được kiểm soát trong mức cho phép, thu nhập không đủ bù chi phí sẽ làm cho ngân hàng thua lỗ.