CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE NO XAU VA QUAN LÝ NỢ XÁU CUA NGÂN HANG THƯƠNG MẠI 1. Khai quát chung về ngân hang thương mại 1. Khái niệm ngân hàng thương mai Theo Frederic S. Mishkin — một nhà kinh tế học người Mỹ thì: “NHTM là một trung gian tài chính mà họ nhận tiền gửi từ các cá nhân, các tổ chức và đem cho vay.
NHTM thu hút vốn trước hết bằng cách phát hành: Tiền gửi có thể phát séc được (là tiền gửi có thể viết séc được), tiền gửi tiết kiệm (là các món tiền gửi có thể được thanh toán ngay, nhưng không cho phép người gửi viết séc), và các tiền gửi có kỳ hạn (là các tiền gửi có kỳ hạn thanh toán trước). Sau đó họ dùng tiền này dé cho vay: cho vay thương mại, cho vay tiêu dùng, cho vay thế chấp và để mua: Các chứng khoán chính phủ, các trái khoán của chính quyền địa phương. Rose, “NHTM là tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán — và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nén kinh tế.” Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: "Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính". Còn ở Việt Nam, luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 xác định : “ Ngân hàng thương mại là loại hình TCTD được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này vì mục tiêu lợi nhuận”.
Trong đó “hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này dé cap tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán.” Tính đến thời điểm hết ngày 31/12/2016, hệ thống tổ chức tín dụng ở Việt Nam có tới 4 NHTM nhà nước; 31 ngân hàng TMCP; 8 ngân hàng có 100% vốn đầu tư nước ngoài; 2 ngân hàng liên doanh; 2 ngân hàng chính sách va l ngân hàng hợp tác xã.1 - Số lượng TCTD ở Việt Nam giai đoạn 2013 - 2016 Năm 2013 2014 2015 2016 NHTM NN 5 5 7 4 NHTM CP 33 33 28 31 NHLD & NNg 57 55 55 61 CTTC & CTTC 28 28 27 27 NH HTX I l I I Tong 124 122 118 124 (Nguôn: tác giả tự tong hợp trên sbv.vn) Hoạt động của NHTM phục vu cho mọi nhu cầu về vốn của moi tang lớp dân cư, loại hình doanh nghiệp và các tô chức khác trong xã hội.1 - Cơ cau tô chức hệ thong các tổ chức tín dụng ở Việt Nam NTA Nhs nước Công ty tất chink HE THONG CÁC T©®CHứC TÍN DUNG (Nguon: Ngân hang nhà nước Việt Nam sbv. Các hoạt động chú yếu của NHTM Như đã nêu ở trên về khái niệm về ngân hàng thương mại, loại hình TCTD này hoạt động với mục tiêu chủ yếu là lợi nhuận. Các hoạt động chủ yếu của NHTM là: > Nhận tiền gửi: là hoạt động của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền góc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận. Hoạt động huy động vốn của các ngân hàng thương mại là các hoạt động nhận tiền gửi và nó thường chiếm tỷ trọng rất cao trong tổng nguồn vốn huy động của NHTM.
Bằng nhiều cách khác nhau, các ngân hàng có thể huy động vốn từ dân cư, từ tốchức kinh tế bang cách bán cho họ các trái phiếu do ngân hàng phát hành, hình thức này được sử dụng vì thời gian huy động vốn rất ngắn trong khi lãi suất lại tương đối cao, do đó ngân hàng thường sử dụng cách này khi cần vốn đột xuất. Ngoài các hình thức huy động vốn trên, các ngân hàng có thé huy động vốn bang cách vay NHTW và các TCTD khác. > Cấp tin dung: là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dung một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Cấp tín dụng là hình thức thông dụng nhất ở các NHTM ở khắp các nơi trên thế IỚI.
Ở Việt Nam, hoạt động cho vay là hoạt động kinh doanh mang lại lợi nhuận cao nhất và có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với ngân hàng. Số tiền dé ngân hang sử dung dé cho vay xuất phat từ chính nguồn vốn mà ngân hàng huy động được. Lợi nhuận thu được của ngân hàng phụ thuộc vào khoản chênh lệch giữa lãi suất huy động và lãi suất ngân hàng cho vay. > Cac dich vu thanh toan lién quan dén tai khoan va cac dịch vụ khác: là việc cung ứng phương tiện thanh toán, thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hang, thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng.
Vấn đề đa dạng hóa các hoạt động dịch vụ ở ngân hàng đang rất được quan tâm. Các dịch vụ này bao gồm: - Ngân hàng điện tử là một hệ thong phần mềm tin hoc cho phép khách hàng có thê tìm hiểu thông tin hay thực hiện một số giao dịch ngân hàng thông qua các phương tiện điện tử. - Nghiệp vụ ủy thác: ngân hàng nhận ủy thác từ các khách hàng để quản trị các tài sản khác. Có thể chia thành 2 loại tài sản bằng tiền và hiện vật, phần đông khách hàng ủy thác cho ngân hàng quản trị tài sản bằng tiền, ký gửi vào một tài khoản, ủy thác cho ngân hàng quản trị một mình hay cùng với người khác.
Ngoài ra, ngân hàng cũng được ủy thác quản trị tài sản của người cầm cổ của vị thành niên. - Dịch vụ bảo đảm an toàn vật có giá: đây là một trong những dịch vụ lâu đời nhât của NHTM. Ngân hàng có đội ngũ nhân viên bảo vệ và có các két sắt giữ tiên rất an toàn, nên khách hàng có thể ký gửi các tài sản quý, những giấy tờ có giá. dịch vụ nhận tiền gửi qua đêm.
- Các dịch vụ kinh doanh khác: những dịch vụ khác bao gồm nhiều loại như bảo đảm tín dụng, mua các khoản sẽ thu của các công ty, phát hành thẻ tín dụng, làm dịch vụ tư vân thuê mua. Xét về giác độ quy mô vốn chủ sở hữu hay về tổng tài sản thì NHTM vẫn là doanh nghiệp có quy mô lớn. Theo quy đỉnh của pháp luật Việt Nam, vốn tối thiểu của NHTM là 3000 tỷ đồng. Bởi vì NHTM là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế, luân chuyền vốn từ nơi dư thừa sang nơi thiếu hụt; là cầu nối các doanh nghiệp với thị trường; là một công cụ dé Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế; là cầu nối nên tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế, chỉ cần một sự thay đổi nhỏ của NHTM, thì cả một nền kinh tế sẽ bị ảnh hưởng.
NHTM có mức độ rủi ro cao, đa dạng và dé lây lan, có thé kể đến: rủi ro tín dụng: rủi ro thanh khoản; rủi ro lãi suất; rủi ro ngoại hồi; rủi ro vốn khả dụng: rủi ro đạo đức. Trong đó, có một loại rủi ro mà trong suốt những năm gần đây nó luôn là một van dé nôi cộm, cần phải được xử lý ngay và triệt để. Đó chính là nợ xấu. Cơ sở lý luận chung về quan lý nợ xấu 1.
Khái quát chung về nợ xấu 1. Một vài quan điểm về nợ xấu Thực tế, có rất nhiều quan điểm về nợ xấu cùng song song tồn tại và không hề có một định nghĩa chuẩn về nó. Đứng dưới góc độ khác nhau, chủ thể khác nhau thì quan điêm cũng khác nhau. > Quan điểm của Ngân hàng trung ương Châu Âu (ECB) Theo quan điểm của ECB, thì nợ xấu được định nghĩa qua hai yếu tố: (i): khoản vay không có khả năng được thu hồi, va (ii): mặc dù được thu hồi nhưng giá trị thu hồi là không đầy đủ.
Như vậy, quan điểm về nợ xấu của ECB được tiếp cận dựa trên kết quả thu hồi nợ của ngân hàng. e No xấu là những khoản cho vay không có khả năng thu hồi như: Những khoản nợ đã hết hiệu lực hoặc những khoản nợ không có căn cứ đòi bồi thường từ người mắc nợ. - Người mắc nợ trốn hoặc bi mat tích, không còn tài sản dé thanh toán nợ. - Những khoản nợ mà ngân hàng không thé liên lac được với người mắc nợ hoặc không thé tìm được người mắc nợ.
- Những khoản nợ mà khách nợ chấm dứt hoạt động kinh doanh, thanh lý tài sản, hoặc kinh doanh bị thua lỗ và tài sản còn lại không đủ dé trả nợ. e No xấu là những khoản cho vay có thé không được thu hồi đầy đủ cho Ngân hàng. Đây là những khoản nợ không có tài sản thế chấp hoặc tài sản đưa ra dé thé chấp không du dé trả nợ cho nên ngân hàng không thé thu hồi đầy đủ món nợ vì người mắc nợ rất khó kiếm được lợi nhuận từ công việc kinh doanh hoặc người mac nợ không liên lac với ngân hàng dé thanh toán. Những khoản nợ loại này gồm có: - Những khoản nợ mà người mắc nợ đồng ý thanh toán trong quá khứ, nhưng phần còn lại không thể được đền bù, hoặc những khoản nợ trong đó tài sản được chuyên đề thanh toán nhưng giá trị còn lại không đủ trang trải toàn bộ nợ.
- Những khoản nợ mà người mac nợ khó có thể trả nợ và yêu cầu gia hạn nợ nhưng không đền bù được nợ trong thời gian thoả thuận. - Những khoản nợ mà tài sản thế chấp không đủ dé trả nợ hoặc tài sản thé chấp ở Ngân hàng không được chấp thuận về mặt pháp lý dẫn đến người mắc nợ không thể trả nợ Ngân hàng day đủ. - Những khoản nợ mà tòa án tuyên bố người mắc nợ phá sản nhưng phan bồi hoàn ít hơn dư nợ.