MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài Trong hoạt động kinh doanh của NHTM tại Việt Nam thu lãi từ cho vay, chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu thu nhập của ngân hàng (70-85% trong tổng thu nhập), thu nhập và rủi ro có mối quan hệ đồng biến với nhau. Khi cả thế giới đang diễn ra khủng hoảng tài chính toàn cầu 2006-2009, Giai đoạn này Quốc Hội, Chính Phủ và Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam chƣa tìm ra định hƣớng quản lý nợ xấu một cách cụ thể. Giai đoạn 2010-2015 đã cho ra đời luật các tổ chức tín dụng 2014, Luật Ngân hàng Nhà nƣớc năm 2010 trong giai đoạn này NHNN cũng ban hành hàng loạt các thông tƣ hƣớng dẫn triển khai chi tiết các văn bản từ Quốc hội và Chính phủ Đề án “Xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD” Đề án “Thành lập Công ty Quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam – VAMC”… định hƣớng kiểm soát chặt tình hình nợ xấu tại các ngân hàng. Năm 2016 đến nay, đã thực sự chú trọng đến xử lý nợ xấu.
Nghị quyết số 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các TCTD đƣợc ban hành nhằm tháo gỡ các vƣớng mắc khó khăn pháp lý hiện hành liên quan đến xử lý nợ xấu và tài sản đảm bảo các khoản nợ của TCTD. Nợ xấu ở mức cao trở thành gánh nặng của các NHTM, nợ xấu tồn tại đồng nghĩa với việc một lƣợng lớn vốn tƣơng ứng không đƣợc đƣa vào lƣu thông không sinh ra lợi nhuận, và chi phí con ngƣời quản lý nợ xấu, và cùng trong quá trình đó ngân hàng vẫn phải trả lãi tiền gửi. Hậu quả tính thanh khoản của ngân hàng kém đi. Để tránh xảy ra tình trạng trên việc quản lý, hạn chế và xử lý nợ tồn đọng là vô cùng cấp thiết.
Agribank từng là là ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu cũng nhƣ lƣợng nợ xấu bán lại cho VAMC lớn nhất hệ thống nay cũng đã có nhiều kết quả tƣơng đối tốt. Nhƣng khi các ngân hàng đang cùng thay đổi chuyển mình trƣớc những 2 yêu cầu của nền kinh tế thì Agribank chi nhánh huyện Yên Lạc, Vĩnh Phúc II vẫn chƣa đem lại hiệu quả trong hoạt động kinh doanh. Khi tổng thu nhập của chi nhánh tập trung chủ yếu vào thu lãi từ cho vay. Tỷ lệ nợ xấu giai đoạn 2018 – 2022, mặc dù có xu hƣớng giảm nhƣng vẫn tiền ẩn rủi ro cao do ảnh hƣởng của dịch Covid-19, thị trƣởng bất động sản có dấu hiệu đi xuống….
Chính vì vậy chi nhánh cần phải đánh giá lại thực trạng quản lý nợ xấu và đƣa ra những giải pháp nhằm quản lý nợ xấu của chi nhánh một cách hiệu quả hơn, góp phần giảm thiểu rủi ro nâng cao hiệu quả hoạt động của chi nhánh. Từ thực tiễn nêu trên tôi lựa chọn đề tài: “Quản lý Nợ xấu tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam Chi nhánh huyện Yên Lạc, Vĩnh Phúc II” Tổng quan nghiên cứu Có rất nhiều quan điểm về nợ xấu trên thế giới, dƣới các góc nhìn khác nhau cũng nhƣ điều kiện kinh tế, môi trƣờng khác nhau các ngân hàng thƣơng mại sẽ quản lý nợ xấu với các phƣơng pháp khác nhau. Mặt khác nợ xấu gây ra hậu quả trực tiếp đến hoạt động của ngân hàng. Vì vậy quản lý nợ xấu luôn là đề tài nóng hổi của các ngân hàng thƣơng mại.
Các nghiên cứu nƣớc ngoài Nir Klein (2013) “Non-Performing Loans in CESEE: Determinants and Impact on Macroeconomic Performance” [11] cho rằng ngân hàng cần đảm bảo tránh đƣợc việc cho vay quá mức, duy trì chất lƣợng tín dụng cao và hạn chế cho vay ngoại tệ đối với những khách hàng vay không có tài sản bảo đảm hay các công cụ hạn chế rủi ro. Thêm vào đó, những áp lực mà nợ xấu gây nên cho nền kinh tế nhấn mạnh yêu cầu tái cơ cấu và làm trong sạch các khoản cho vay của ngân hàng. Trong đó, việc xử lý nợ xấu cần đảm bảo lợi ích của cả ngƣời đi vay và ngƣời cho vay. Một số gợi ý chính sách trong việc giải quyết nợ xấu đƣợc tác giả đề cập đến là các nhà hoạch định chính sách 3 cần đƣa ra những biện pháp linh hoạt và chủ động hơn, bao gồm giảm thuế, loại bỏ trở ngại pháp lý để giúp ngân hàng đẩy nhanh quá trình xử lý nợ xấu.
Nợ xấu không chỉ ảnh hƣởng đến hoạt động của ngân hàng mà theo Nir Klein, nợ xấu tăng còn ảnh hƣởng nghiêm trọng đến những yếu tố khác của nền kinh tế vĩ mô nhƣ tốc độ tăng trƣởng kinh tế thực, tỉ lệ thất nghiệp và lạm phát; do đó khẳng định quan điểm cho rằng không thể có đƣợc sự tăng trƣởng bền vững và lành mạnh nếu không có một hệ thống ngân hàng bình ổn và hiệu quả. Cũng từ quan điểm này, việc loại bỏ nợ xấu là điều kiện cần thiết để cải thiện tình trạng của nền kinh tế. Nếu nợ xấu tiếp tục tồn tại và tăng cao thì nguồn lực bị tắc nghẽn tại những khu vực không mang lại lợi nhuận, kiềm chế sự phát triển của nền kinh tế và làm suy giảm hiệu quả kinh tế. Các nghiên cứu trong nƣớc Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý nợ xấu của NHTM.
Các công trình đã đề cập đƣợc và giải quyết đƣợc vấn đề sau: Thứ nhất, nghiên cứu về phân loại nợ xấu. Lê Xuân Nghĩa trong công trình nghiên cứu: “Xử lý nợ xấu của các ngân hàng thƣơng mại Việt Nam theo thông lệ quốc tế” (2007) [5] đã đƣa ra các tiêu chí phân loại nợ chung nhất đƣợc áp dụng phổ biến ở các nƣớc đang phát triển trên thế giới, cũng nhƣ quy trình phân loại nợ, phòng ngừa, xử lý nợ xấu của ngân hàng thƣơng mại theo thông lệ quốc tế. Dự án còn phân tích thực trạng nợ xấu của các ngân hàng thƣơng mại Việt Nam giai đoạn 2000 – 2005 và đề xuất các giải pháp xử lý, phòng ngừa nợ xấu của các ngân hàng thƣơng mại Việt Nam theo thông lệ quốc tế. Ngoài ra quản lý nợ xấu đƣợc đề cập nghiên cứu ở một số nghiên cứu khoa học khác.
Đề tài nghiên cứu của Tác giả Trần Huy Hoàng – Nguyễn Thế Hà (2020) về: “giải pháp hạn chế và xử lý nợ xấu tại Ngân hàng Công Thƣơng Việt Nam – Chi nhánh Trà Vinh” [1] đã phân nợ xấu theo 2 phƣơng 4 pháp là phân tích định lƣợng thành 5 nhóm phân theo số ngày quá hạn, phân tích định tính căn cứ theo hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ và chính sách dự phòng rủi ro của tổ chức tín dụng đƣợc Ngân hàng Nhà nƣớc chấp thuận. Thông qua việc phân chia nhóm nợ cùng các phân tích số liệu sơ cấp ,số liệu thứ cấp giai đoạn 2014-2018, tác giả đƣa đến kết luận các nguyên nhân có tác động nhất đến nợ xấu tại Ngân hàng Công Thƣơng Việt Nam – chi nhánh Trà Vinh là: năng lực của cán bộ nhân viên về chuyên môn, khách hàng sử dụng vốn sai mục đích/lừa đảo, chính sách nhà nƣớc. Tuy nhiên, các bài viết này mới chỉ nhìn nhận vấn đề nợ xấu ở một khía cạnh nào đó chứ chƣa mang tính chất hệ thống. Công trình nghiên cứu của TS.
Lê Xuân Nghĩa khái quát hơn cả nhƣng tập trung chủ yếu vào các vấn đề lý luận và thực tiễn xử lý các khoản nợ xấu trƣớc năm 2000 và giai đoạn 2000-2005 của các ngân hàng thƣơng mại Việt Nam. Trong giai đoạn này, các ngân hàng thƣơng mại Việt Nam chủ yếu chỉ tập trung vào tái cơ cấu tài chính. Thứ hai, về kinh nghiệm xử lý nợ xấu của các ngân hàng thƣơng mại Nghiên cứu của Tô Ngọc Hƣng (2012): “Kinh nghiệm xử lý nợ xấu của một số quốc gia và bài học cho Việt Nam” [2] đã chỉ ra những yếu kém của các ngân hàng thƣơng mại dẫn đến tình trạng nợ xấu cũng nhƣ giải pháp xử lý nợ xấu của một số nƣớc nhƣ: Hàn Quốc, Trung Quốc, Hungary… Từ đó, rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Luận văn “Quản lý nợ xấu tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Trung Yên Hà Nội” (Nguyễn Thanh Bình – 2016) [3] Luận văn này tác giả đã làm rõ cơ sở lý luận về xử lý nợ xấu tại các Ngân hàng thƣơng mại, đúc rút một số bài học kinh nghiệm về xử lý nợ xấu tại một số Chi nhánh Ngân hàng thƣơng mại ở Việt Nam.
Chỉ rõ nguyên nhân của những hạn chế đó tập trung đến từ cá bộ không tuân thủ các chính sách ngân hàng đề ra. Đồng thời đề xuất một số giải pháp hoàn thiện xử lý nợ xấu 5 tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Trung Yên Hà Nội đến năm 2020. Các đề tài nghiên cứu về kinh nghiệm xử lý nợ xấu ở các ngân hàng thƣơng mại trên thế giới, đã đúc kết sau một quá trình hình thành và phát triển. Chỉ rõ hậu quả của một chính sách sai lệch để đƣa ra định hƣớng về: Sản phẩm tín dụng, mô hình quản lý tín dụng nên định hƣớng thay đổi trong tƣơng lai.
Thứ ba, nghiên cứu các biện pháp quản lý nợ xấu Luận văn “ Quản lý nợ xấu tại ngân hàng thƣơng mại cổ phần đẩu tƣ và phát triển Việt Nam Chi nhánh Bắc Quảng Bình” (Nguyễn Tiến Đức – 2017) [4] đã nghiên cứu chia nợ xấu của ngân hàng thƣơng mại cổ phần đẩu tƣ và phát triển Việt Nam Chi nhánh Bắc Quảng Bình trong giai đoạn 2015-2017, chia thành các nhóm lớn: Nợ xấu phân theo thời gian, nợ xấu phân theo loại cho vay, nợ xấu phân theo thành phần kinh tế, nợ xấu trên tổng dƣ nợ kết hợp phƣơng pháp biểu đồ từ đó đánh giá thực trạng quản lý của chi nhánh. Tác giả đã chỉ ra rõ tỷ lệ cấp vốn giới hạn đối với những lĩnh vực đặc biệt nhƣ khai thác tàu biển, kinh doanh dịch vụ lƣu trú,. đang tăng trƣởng nóng tại Quảng Bình trong những năm gần đây. Luận văn “Quản lý nợ xấu tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Từ Liêm” (Nguyễn Tuấn Việt - 2016) [6] làm rõ cơ sở lý luận về nợ xấu, đã đánh giá khái quát về tình hình quản lý nợ xấu tại Agribank Chi nhánh Nam Từ Liêm Hà Nội từ 2008-2015, những nhƣợc điểm trong công tác quản lý nợ theo mô hình phân tán.
Những rủi ro mà chi nhánh đã gặp phải trong những năm qua, tồn tại chƣa khắc phục từ đó đề xuất chuyển đổi mô hình sang quản lý tập trung.