Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm Ngân hàng thương mại được giải thích theo Luật Các tổ chức tín dụng 2010 [22] tại khoản 3 Điều 4 “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. NHTM được tổ chức, thành lập dưới 02 hình thức theo quy định tại Điều 6, khoản 1 và khoản 2 bao gồm: - Công ty cổ phần.
- Công ty TNHH 1 thành viên 100% vốn điều lệ do Nhà nước sở hữu. Và Agribank là một trong các ngân hàng thương mại quốc doanh sở hữu 100% vốn từ ngân sách nhà nước. Một số hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại - Nhận tiền gửi tiết kiệm, có kỳ hạn, không kỳ hạn và các loại tiền gửi khác thông qua phát hành sổ tiết kiệm, các chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn theo quy định. - Cấp tín dụng dưới các hình thức sau đây: + Cho vay; + Chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác; + Bảo lãnh ngân hàng; + Phát hành thẻ tín dụng; + Bao thanh toán trong nước; bao thanh toán quốc tế đối với các ngân hàng được phép thực hiện thanh toán quốc tế; + Các hình thức cấp tín dụng khác sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận.
- Mở tài khoản thanh toán cho khách hàng. 7 - Cung ứng các phương tiện thanh toán. - Cung ứng các dịch vụ thanh toán sau đây: + Thực hiện dịch vụ thanh toán trong nước bao gồm séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thư tín dụng, thẻ ngân hàng, dịch vụ thu hộ và chi hộ; + Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế và các dịch vụ thanh toán khác sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận. Tổng quan về nợ xấu và xử lý nợ xấu 1.
Khái niệm nợ xấu và xử lý nợ xấu Nợ xấu là khoản nợ khi đến hạn mà khách hàng không có khả năng trả nợ gốc, lãi hoặc cả gốc, lãi. Khoản nợ này đã đến hạn nhưng không có khả năng thu hồi hoặc khả năng thu hồi không kịp thời do yếu tố chủ quan từ chính phía khách hàng kinh doanh không hiệu quả, phá sản dẫn đến việc mất khả năng thanh toán khoản nợ đã vay của ngân hàng khi đến kỳ hạn. Nợ xấu của các ngân hàng thương mại định nghĩa theo ngân hàng Trung ương liên minh Châu Âu, bao gồm: - Những khoản nợ đã chấm dứt hiệu lực hay những khoản nợ không có cơ sở đòi bồi thường trả nợ; Những khoản nợ mà khách hàng đã ngừng hoạt động kinh doanh, thanh lý tài sản hay kinh doanh bị thua lỗ và giá trị tài sản còn lại không đủ hoặc không thể thu hồi được. - Những khoản nợ không có tài sản bảo đảm hoặc có tài sản bảo đảm nhưng không đủ để thu hồi nợ là khoản nợ có thể thu nhưng không thanh toán đầy đủ toàn bộ nợ gốc và lãi cho ngân hàng.
Định nghĩa khác về nợ xấu đã được Quỹ tiền tệ quốc tế IMF (International Monetary Fund) đưa ra như sau: “Một khoản vay được xem là không có khả năng tạo ra lợi nhuận (nợ xấu) khi không hoàn trả nợ gốc 90 ngày trở lên; khi các khoản nợ lãi đã quá hạn từ 90 ngày trở lên đã được vốn hóa, cơ cấu lại, hoặc gia hạn nợ theo thỏa thuận; khi các khoản nợ đến hạn dưới 90 ngày nhưng nhận thấy những dấu hiệu rõ ràng về khả năng người vay sẽ không thể trả nợ đầy đủ (người vay phá sản). Nợ xấu theo quan điểm này được nhận diện đánh giá dựa trên khả năng hoàn 8 trả khoản nợ đầy đủ số tiền gốc và lãi hoặc một phần nợ gốc và lãi của khách hàng hay thời gian thu hồi nợ quá hạn. Định nghĩa nợ xấu theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, đây là những khoản nợ của khách hàng mà ngân hàng nhận định rằng không còn khả năng hoặc không có thiện chí để trả nợ đầy đủ. Nghĩa là khách hàng không thể trả lại số tiền đã vay và lãi phát sinh theo thỏa thuận ban đầu hoặc không có ý định trả nợ trong tương lai.
Khái niệm nợ xấu theo khoản 8 Điều 3 Thông tư số 11/2021/TT- NHNN [8] là nợ xấu nội bảng, gồm nợ thuộc các nhóm Nợ dưới tiêu chuẩn (nhóm 3), Nợ nghi ngờ sẽ mất vốn (nhóm 4) và Nợ có khả năng mất vốn (nhóm 5). Hoạt động xử lý nợ xấu là quá trình xử lý các khoản nợ xấu của NHTM thông qua các biện pháp như tái cơ cấu nợ (quá trình đàm phán lại các điều khoản của khoản nợ hiện có, nhằm giúp người vay có thể tiếp tục trả nợ mà không cần phải tuyên bố phá sản), thu hồi nợ, bán nợ, thanh lý tài sản đảm bảo. Mục tiêu của việc xử lý nợ xấu là giảm thiểu rủi ro và tăng cường lợi nhuận cho ngân hàng. Xử lý nợ xấu là quá trình giải quyết các khoản nợ không thể thu hồi được của các NHTM.
Quá trình này bao gồm việc xác định, đánh giá và áp dụng các biện pháp để giảm thiểu rủi ro và thu hồi khoản nợ. Xử lý nợ xấu là quá trình đánh giá, quản lý và thu hồi các khoản nợ xấu của ngân hàng. Quá trình này bao gồm việc đưa ra các biện pháp nhằm giảm thiểu rủi ro và tối ưu hóa lợi nhuận từ các khoản nợ xấu. Phân loại nợ xấu Phân loại nợ là việc các tổ chức tín dụng căn cứ vào các tiêu chuẩn định tính và định lượng để đánh giá mức độ rủi ro của các khoản vay và các cam kết ngoại bảng, trên cơ sở đó phân loại các khoản nợ vào các nhóm nợ thích hợp.
Căn cứ theo Điều 10 Thông tư số 11/2021/TT-NHNN ngày 30/7/2021 [8] của Thống đốc NHNN Việt Nam nợ xấu được phân loại thành các nhóm sau: Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày, trừ khoản nợ quy định tại khoản 3 Điều này; 9 Khoản nợ gia hạn nợ lần đầu còn trong hạn, trừ khoản nợ quy định tại điểm b khoản 2, khoản 3 Điều này; Khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo thỏa thuận, trừ khoản nợ quy định tại khoản 3 Điều này; Khoản nợ thuộc một trong các trường hợp sau đây chưa thu hồi được trong thời gian dưới 30 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi: Khoản nợ vi phạm quy định tại các khoản 1, 3, 4, 5, 6 Điều 126 Luật Các tổ chức tín dụng (đã sửa đổi, bổ sung); Khoản nợ vi phạm quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 Điều 127 Luật Các tổ chức tín dụng (đã sửa đổi, bổ sung); Khoản nợ vi phạm quy định tại các khoản 1, 2, 5 Điều 128 Luật Các tổ chức tín dụng (đã sửa đổi, bổ sung); Khoản nợ trong thời hạn thu hồi theo kết luận thanh tra, kiểm tra; Khoản nợ phải thu hồi theo quyết định thu hồi nợ trước hạn của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng vi phạm thỏa thuận với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài chưa thu hồi được trong thời gian dưới 30 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi; Khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều này; Khoản nợ phải phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại khoản 4 Điều 8 Thông tư này. Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ mất vốn) bao gồm: Khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày, trừ khoản nợ quy định tại khoản 3 Điều này; Khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn đến 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu, trừ khoản nợ quy định tại khoản 3 Điều này; Khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ 2 (hai) còn trong hạn, trừ khoản nợ quy định tại điểm b khoản 2, khoản 3 Điều này; 10 Khoản nợ quy định tại điểm c (iv) khoản 1 Điều này chưa thu hồi được trong thời gian từ 30 ngày đến 60 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi; Khoản nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra, kiểm tra nhưng quá thời hạn thu hồi theo kết luận thanh tra, kiểm tra đến 60 ngày mà chưa thu hồi được; Khoản nợ phải thu hồi theo quyết định thu hồi nợ trước hạn của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng vi phạm thỏa thuận với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài chưa thu hồi được trong thời gian từ 30 ngày đến 60 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi; Khoản nợ được phân loại vào nhóm 4 theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều này; Khoản nợ phải phân loại vào nhóm 4 theo quy định tại khoản 4 Điều 8 Thông tư này. Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Khoản nợ quá hạn trên 360 ngày; Khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 91 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; Khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; Khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, trừ khoản nợ quy định tại điểm b khoản 2 Điều này; Khoản nợ quy định tại điểm c (iv) khoản 1 Điều này chưa thu hồi được trên 60 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi; Khoản nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra, kiểm tra nhưng quá thời hạn thu hồi theo kết luận thanh tra, kiểm tra trên 60 ngày mà chưa thu hồi được; Khoản nợ phải thu hồi theo quyết định thu hồi nợ trước hạn của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng vi phạm thỏa thuận với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài chưa thu hồi được trên 60 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi; 11 Khoản nợ của khách hàng là tổ chức tín dụng đang được kiểm soát đặc biệt, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang bị phong tỏa vốn và tài sản.