Chương 1 mang lại cái nhìn tổng quan về đề tài nghiên cứu “ Các yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam”. Chương kế tiếp sẽ trình bày các cơ sở lý thuyết, cũng như khái quát các nghiên cứu trước về vấn đề nợ xấu. 9 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Khái niệm nợ xấu Trên thế giới, thuật ngữ “nợ xấu” trong tiếng anh rất phong phú và đa dạng, ngoài từ “non-performing loan” thì còn có “bad debt”, “doubtful debt” chỉ những khoản nợ khó đòi (Fofack, 2005) hay khoản nợ không trả được và ngân hàng không thể thu lợi từ khoản nợ đó (Ernst & Young, 2004).
Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF, 2019), các khoản nợ xấu được định nghĩa là các khoản vay mà (1) quá hạn thanh toán lãi hoặc gốc từ 90 ngày trở lên; hoặc (2) các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được vốn hóa (tái đầu tư vào số tiền gốc), được tái cấp vốn, hoặc được gia hạn theo thỏa thuận; hoặc (3) khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhìn thấy những dấu hiệu rõ ràng cho biết người vay không có khả năng thanh toán nợ đầy đủ (người vay phá sản). Đối với Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (BCBS), một khoản nợ được xem là “xấu” nếu xét dựa trên thời gian quá hạn chi trả của khoản nợ đó là không cụ thể, bởi vì thời gian đó còn tùy thuộc vào từng quốc gia (thời gian đó có thể là từ 30-89 ngày, 90-179 ngày hay trên 180 ngày). Vì thế, BCBS đã đưa ra quan điểm về nợ xấu: “khoản nợ đã quá hạn và ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi”. Ngoài ra, Ngân hàng Trung Ương Châu Âu (ECB) có định nghĩa về nợ xấu như sau: “một khoản nợ được xem là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và gốc trên 90 ngày, phù hợp với định nghĩa của Basel II về tổn thất, hoặc khi có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng thanh toán đầy đủ khoản vay”.
Tại Việt Nam, tại Điều 3 Thông tư 11/2021/TT-NHNN do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành về “Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài” quy định như sau: “khoản nợ quá hạn là khoản nợ mà khách hàng không trả được đúng hạn một phần 10 hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi theo thỏa thuận với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Nợ xấu (NPL) là nợ xấu nội bảng, gồm nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5”. Bên cạnh đó, trong Thông tư cũng đề cập đến tiêu chí đánh giá nợ xấu chủ yếu dựa vào thời gian quá hạn trả nợ là trên 90 ngày và khả năng trả nợ của người vay. Nhìn chung, về cơ bản thì có 2 tiêu chí để xác định, đánh giá khái niệm nợ xấu: + Tiêu chí định lượng: có thời gian trả nợ quá hạn trên 90 ngày.
+ Tiêu chí định tính: khả năng thanh toán nợ của người vay bị nghi ngờ. Phân loại nợ xấu Theo Điều 10 Thông tư số 11/2021/TT-NHNN về việc phân loại nợ và cam kết ngoại bảng thì các TCTD phân loại nợ theo 5 nhóm sau: - Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn): Khi các khoản nợ của nhóm này đều chưa đến hạn thanh toán thì đây là nhóm nợ có khả năng trả đầy đủ khoản vay là cao nhất. Ngoài ra, điều kiện tài chính của các bên nợ trong nhóm này được nhận xét là có khả năng thu hồi cả lãi và gốc. Trường hợp nợ quá hạn dưới 10 ngày, nhưng được nhận xét là có khả năng thu hồi cả lãi quá hạn và nợ gốc cũng sẽ được liệt vào nhóm nợ đủ tiêu chuẩn.
- Nhóm 2 (Nợ cần chú ý): Đây là nhóm nợ có khoản nợ quá hạn đến 90 ngày hoặc khoản nợ thuộc nhóm này đã được TCTD, chi nhánh ngân hàng chấp thuận điều chỉnh kỳ hạn trả nợ. Khoản vay được đưa vào nhóm 2 cho thấy khả năng trả nợ của người vay có dấu hiệu suy giảm. - Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn): Đây là nhóm nợ có khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày và khoản nợ đã được các TCTD, chi nhánh ngân hàng điều chỉnh kỳ hạn trả nợ nhưng khoản nợ gia hạn lần đầu vẫn còn trong hạn. Bên cạnh đó, khoản nợ được liệt 11 vào nhóm này thì khi đến hạn ngân hàng có thể không có khả năng thu hồi đầy đủ.
- Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ): Độ tín nhiệm ở nhóm nợ này là rất thấp, khi khoản nợ đã quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày. TCTD, chi nhánh ngân hàng đã điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu cho các bên nợ thuộc nhóm này, nhưng các bên nợ vẫn tiếp tục quá hạn trả nợ đến 90 ngày theo thời gian trả nợ đã được cơ cấu lần đầu. Bên cạnh đó, TCTD, chi nhánh ngân hàng đã tiếp tục điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần 2 cho nhóm nợ này nhưng vẫn chưa quá hạn. Khoản nợ được đưa vào nhóm 4 cho thấy khả năng tổn thất của ngân hàng là cao.
- Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn): Khả năng thu hồi nợ ở nhóm nợ này là rất thấp, gần như là không còn khả năng thu hồi và ngân hàng có khả năng mất vốn ở nhóm nợ này. Nhóm 5 được đánh giá là khi bên nợ không được phân loại vào 04 nhóm còn lại khi nhiều lần không thực hiện việc thanh toán, kể cả khi đã được ngân hàng cơ cấu lại thời hạn trả nợ nhiều lần và thời gian quá hạn trả nợ của nhóm 5 là trên 360 ngày. Lý thuyết liên quan đến nợ xấu 2. Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric Information) Khái niệm thông tin bất cân xứng xuất hiện lần đầu tiên vào những năm 1970 và được nghiên cứu bởi 3 nhà nghiên cứu: George Akerlof, Michael Spence và Joseph Stiglitz.
Theo George Akerlof (1970), bất cân xứng thông tin xảy ra khi người bán có nhiều kiến thức hơn người mua về một mặt hàng cụ thể và bất cân xứng thông tin này khiến cho người bán có động cơ bán hàng hóa có chất lượng thấp hơn mức trung bình của thị trường. Ngoài ra, bất cân xứng thông tin còn đặt ra một vấn đề trên thị trường tài chính khi người đi vay có nhiều thông tin hơn về tình trạng tài chính của bản thân so với người cho vay và điều này sẽ dẫn đến sự thất bại thị trường. Hai hệ quả phổ biến nhất của bất cân xứng thông tin là sự lựa chọn đối nghịch (adverse selection) và rủi ro đạo đức (moral hazard). 12 Lựa chọn đối nghịch là tình huống mà trong đó một trong các bên chọn hàng hóa hoặc dịch vụ chất lượng thấp thay vì chất lượng cao do không đủ thông tin (Akerlof, 1970).
Hệ quả này thường xảy ra trong thị trường ô tô đã qua sử dụng, thị trường tín dụng và tài chính, cũng như ngành bảo hiểm. Trong hoạt động tín dụng, lựa chọn đối nghịch xảy ra khi tổ chức tín dụng không thể hiểu người đi vay bằng chính bản thân người vay cho nên nếu khách hàng có rủi ro vỡ nợ cao lại đi vay nhiều nhất và có nhiều khả năng được tổ chức tín dụng lựa chọn cho vay. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến cơ hội lợi nhuận của ngân hàng mà còn gây tác động tiêu cực đến phát triển kinh tế. Rủi ro đạo đức là một kiểu thất bại thị trường nảy sinh trong môi trường thông tin không cân xứng.
Đỗ Thị Kim Hảo (2012) cho rằng: “rủi ro đạo đức nảy sinh khi bên có ưu thế thông tin hiểu được tình thế thông tin không cân xứng giữa các bên giao dịch và tự nhiên hình thành động cơ hành động theo hướng làm lợi cho bản thân, bất kể hành động đó có thể làm hại cho bên kém ưu thế thông tin”. Trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, nhà kinh tế học Paul Krugman (2009) cho rằng rủi ro đạo đức là trường hợp khi một bên đưa ra các quyết định liên quan tới mức độ chấp nhận rủi ro, trong khi bên kia phải chịu tổn thất nếu các quyết định đó thất bại. Vì vậy, sự bất cân xứng thông tin dễ dàng xuất hiện trong hoạt động cho vay khi ngân hàng khó có thể nhận ra được các dấu hiệu lừa dối, không trung thực hoặc biểu hiện những hành vi phi đạo đức. Điều này khiến ngân hàng dễ rơi vào tình trạng cấp khoản vay cho các khách hàng xấu và từ chối cấp khoản vay đối với khách hàng tốt, bởi vì ngân hàng nắm giữ ít thông tin chi tiết về dự án, về mục đích sử dụng vốn vay.
Từ đó, làm tăng nguy cơ vỡ nợ đối với các khoản vay của ngân hàng. Lý thuyết chu kỳ kinh doanh (Business Cycle Theory) Chu kỳ kinh doanh là sự biến động của tổng sản phẩm quốc nội (GDP), thường kéo dài từ 2 đến 10 năm. Chu kỳ này được đánh dấu bằng một sự mở rộng hay thu hẹp trên diện rộng ở hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế. Chu kỳ kinh doanh bao gồm hai giai đoạn chính: suy thoái và hưng thịnh (mở rộng).
Các đỉnh và đáy là những điểm chuyển hướng của chu kỳ. Một chu kỳ kinh doanh thường có bốn giai đoạn là 13 thu hẹp sản lượng, suy thoái, phục hồi và hưng thịnh. Ngày nay, trong thời kỳ suy thoái kinh tế, các ngân hàng thường áp dụng các chính sách thu hẹp tín dụng và thực hiện chính sách mở rộng tín dụng trong quá trình kinh tế tăng trưởng. Ngoài ra, khi GDP tăng trưởng, thu nhập của người dân tăng lên, do đó tạo điều kiện cho việc tăng khả năng thanh toán nợ vay của bên nợ, do đó góp phần giảm nợ xấu.
Ngược lại khi nền kinh tế suy thoái thì sẽ dẫn đến tăng tỷ lệ nợ xấu bởi vì người vay sẽ gặp khó khăn trong việc thanh toán các khoản nợ. Giả thuyết hiệu ứng quy mô Theo quan điểm của Salas (2002), giả thuyết về hiệu ứng quy mô được lập luận rằng ngân hàng lớn có thể quản lý nợ xấu tốt hơn so với ngân hàng nhỏ nhờ vào lợi thế về khả năng tài chính, khả năng tiếp cận thông tin và khả năng đa dạng hóa quỹ tài sản. Điều này giúp ngân hàng lớn tối ưu hóa việc xử lý nợ xấu và tạo ra hiệu suất tốt hơn.