Chương 1: Gới thiệu về đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận các nhân tố ảnh hưởng tới nợ xấu tại NHTM Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và kết quả nghiên cứu Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu Chương 5: Khuyến nghị 17 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI NỢ XẤU TẠI NHTM 2.1 Tổng quan lí thuyết về NHTM 2.1 Khái niệm Ngân hàng là một tổ chức tài chính có chức năng cung cấp các dịch vụ tài chính, như cho vay và tiếp nhận tiền gửi, đồng thời giám sát và quản lý rủi ro tài chính (F. Theo Mishkin trong “The Economics of Money, Banking and Financial Markets", ngân hàng là một tổ chức tài chính chuyên về cung cấp các dịch vụ tai chính bao gồm nhận tiền gửi và cho vay. Đây là trung gian tài chính lớn nhất trong nền kinh tế và cũng là trung gian tài chính mà người dân của một quốc gia tương tác thường xuyên nhất để phục vụ cho nhu cầu cá nhân. Ngân hàng là một phần quan trọng của hệ thống tài chính và có vai trò quan trọng trong việc tạo ra tiền tệ, cung cấp tài trợ cho các hoạt động kinh doanh và cá nhân, và giúp quản lý rủi ro tài chính.
Tuy vậy, các ngân hàng không phải là tổ chức tài chính quan trọng duy nhất vì song song cùng hoạt động còn có các tổ chức tài chính khác như công ty bảo hiểm, công ty tài chính, quỹ hưu trí, quỹ tương hỗ và ngân hàng đầu tư đã phát triển với chi phí của ngân hàng. Theo Điều 4, Khoản 2 Luật các tổ chức tín dụng 47/2010/QH12 “Ngân hàng được định nghĩa là loại hình TCTD có thể thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm NHTM, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã.” Nhìn chung các ngân hàng có thể được khái niệm thông qua chức năng vai trò của mình “trung gian tài chính, doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, tổ chức tín dụng”, đây đồng thời là cơ sở để xem xét, đánh giá những loại hình dịch vụ mà nó cung cấp “Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ tanh toán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế” (Phan Thị Thu Hà, 2014) Cũng trong Điều 4, Khoản 3 Luật các Tổ chức tín dụng 47/2010/QH12, NHTM được định nghĩa “là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận.” NHTM nhận tiền gửi từ công chúng và sử dụng các khoản tiền đó để cho vay với doanh nghiệp (Edward J. Nó đóng vai trò là trung gian giữa người tiết kiệm và người đi vay, đồng thời là một yếu tố then chốt trong việc huy động và phân bổ vốn trong nền kinh tế (Anca Elena Nucu, 2014).
NHTM là một phần thiết yếu trong hệ thống ngân hàng tại Việt Nam, đóng vai trò chủ lực trong việc hỗ trợ cho hoạt 18 động kinh tế của quốc gia. Bên cạnh đó NHTM còn là kênh dẫn vốn chính từ những người có tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế đến nơi cần vốn.2 Phân loại NHTM có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau, tùy thuộc vào các tiêu chí, yêu cầu quản lý khác nhau (Phan Thị Thu Hà, 2014) Phân loại theo tiêu chí hình thức sở hữu NHTM Nhà nước (NHTM quốc doanh): đây là loại hình ngân hàng được thành lập và quản lý chặt chẽ bởi Chính phủ của một nước. Nguồn vốn thành lập cũng do Nhà nước cấp. Những ngân hàng này thường hoạt động theo quy định, mục tiêu và chính sách của Chính phủ nước đó.
NHTM Cổ phần: là một loại hình ngân hàng được thành lập và hoạt động theo hình thức cổ phần hóa, nghĩa là các cổ đông của ngân hàng đóng góp tiền vốn vào ngân hàng thông qua việc mua cổ phiếu mà ngân hàng phát hành và chia sẻ lợi nhuận theo tỷ lệ cổ phần mà họ nắm giữ. Loại ngân hàng này cũng phải tuân thủ các quy định và điều kiện của cơ quan quản lý nhà nước để bảo đảm hoạt động của mình được an toàn và bền vững. Ngân hàng liên doanh (ngân hàng đa quốc gia): ngân hàng này được thành lập thông qua việc hợp tác giữa hai hoặc nhiều ngân hàng hoặc tổ chức tài chính từ các quốc gia khác nhau bằng cách góp vốn. Ngân hàng liên doanh thường được thành lập để tận dụng lợi thế của các đối tác, chẳng hạn như kinh nghiệm, khách hàng, hoặc tài sản, để tăng cường hoạt động của mình trên quy mô quốc tế.
NHTM có 100% vốn nước ngoài: đây là ngân hàng thành lập ở Việt Nam, dựa trên các quy định pháp luật của Việt Nam mà toàn bộ vốn của nó 100% là vốn nước ngoài. Điều này có nghĩa là ngân hàng không có bất kỳ sự tham gia vốn của chính phủ hoặc các nhà đầu tư trong nước. Theo Luật các Tổ chức Tín dụng số 47/2010/QH12, NHTM có 100% vốn nước ngoài được phép hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam và phải đáp ứng các yêu cầu về vốn và vận hành, đồng thời tối ưu hóa lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro. 19 Phân loại theo tiêu chí hình thức hoạt động NHTM chuyên doanh: đây là ngân hàng có tính chuyên môn hóa cao, chỉ hoạt động chuyên biệt trong một lĩnh vực nhất định, với đối tượng khách hàng hàng cụ thể như nông nghiệp, xây dựng, đầu tư… NHTM bán buôn: chuyên cung cấp dịch vụ tài chính cho các tổ chức, doanh nghiệp lớn và các tập đoàn kinh tế có nhu cầu vay mượn và quản lý tài sản lớn, rất ít giao dịch với nhóm khách hàng cá nhân.
Tuy sản phẩm dịch vụ ngân hàng này không đa dạng nhưng có giá trị giao dịch rất lớn NHTM bán lẻ: ngược lại với ngân hàng bán buôn thì ngân hàng này chuyên cung cấp các dịch vụ tài chính cho khách hàng cá nhân, các tổ chức vừa và nhỏ. NHTM đa năng: đây là ngân hàng cung cấp nhiều loại dịch vụ linh hoạt cho nhiều đối tượng khách hàng khác nhau, kể cả cá nhân cho đến những doanh nghiệp lớn. Tính đa dạng phong phú này giúp ngân hàng có thể hạn chế rủi ro và tăng thu nhập. Hình thức này cũng là xu hướng hoạt động mà các NHTM hiện nay hướng đến.
Phân loại theo tiêu chí cơ cấu tổ chức Ngân hàng sở hữu công ty: là những ngân hàng thành lập hoặc mua lại các công ty như công ty chứng khoán, bảo hiểm… để mở rộng hoạt động. Ngân hàng thuộc sở hữu của công ty: là ngân hàng được các tập đoàn tài chính, kinh tế thành lập ra. Việc ngân hàng thuộc sở hữu của một công ty có thể mang lại nhiều lợi ích cho công ty đó, như quyền kiểm soát và lợi nhuận từ ngân hàng, cũng như khả năng cung cấp dịch vụ tài chính cho các khách hàng của chính công ty đó. Ngân hàng đơn nhất: là ngân hàng không có chi nhánh, mọi dịch vụ của ngân hàng này đều chỉ do một hội sở ngân hàng cung cấp.
Ngân hàng có chi nhánh: là ngân hàng mà có nhiều văn phòng hoặc điểm giao dịch (chi nhánh) tại nhiều địa điểm khác nhau để cung cấp dịch vụ tài chính cho khách hàng của mình. Việc mở ra các ngân hàng chi nhánh này thường bị kiểm soát và quản lý chặt chẽ thông qua các quy định về mức vốn, chuyên môn nhân sự… bởi NHTW. Việc kiểm soát chất lượng dịch vụ và đảm bảo sự nhất quán giữa các chi nhánh có thể là một thách thức đối với ngân hàng này.3 Hoạt động của Ngân hàng thương mại Chủ yếu, NHTM cung cấp các dịch vụ tài chính cho các doanh nghiệp và cá nhân, bao gồm cho vay, tiết kiệm, thanh toán, dịch vụ tài trợ thương mại, dịch vụ tài trợ cá nhân và các dịch vụ khác. NHTM cũng có thể hỗ trợ các hoạt động tài chính của các doanh nghiệp và cá nhân bằng cách cấp tín dụng để giúp họ đầu tư, mở rộng kinh doanh hoặc tài trợ cho các dự án.
Bên cạnh đó NHTM đóng vai trò giám sát các hoạt động tài chính của các pháp nhân trong nền kinh tế, giúp đảm bảo tính minh bạch và tăng cường an ninh tài chính. Căn cứ tại Điều 98 Luật tổ chức tín dụng 2010 quy định về các hoạt động của NHTM, cụ thể như sau: Hoạt động huy động vốn NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ với mục đích chính là tạo ra lợi nhuận, nguồn vốn của NHTM sẽ được huy động từ kinh tế và từ những nguồn tiền này, ngân hàng mới có thể thực hiện các hoạt động kinh doanh khác mang lại doanh thu. Có hai hình thức huy động vốn của NHTM bao gồm: Nhận tiền gửi và đi vay • Về hoạt động nhận tiền gửi: Đây là hoạt động quan trọng nhất của các NHTM, chiếm tỷ trọng lớn trong nguồn vốn và góp phần tạo ra doanh thu chính cho mỗi ngân hàng. Ngân hàng sẽ huy động những nguồn tiền nhàn rỗi từ những pháp nhân trong nền kinh tế - bao gồm các cá nhân và tổ chức.
Những khoản tiền này sẽ được ủy thác từ chủ sở hữu cho bên ngân hàng bảo quản hộ và NHTM cam kết hoàn trả đúng hạn. Các hình thức nhận tiền gửi bao gồm: tiền gửi có kỳ hạn, không kỳ hạn, chứng chỉ tiền gửi, tiền gửi tiết kiệm… • Về hoạt động đi vay: Tiền vay chiếm tỷ trọng thấp hơn so với tiền gửi trong khoản mục nguồn vốn trong bảng cân đối kế toán của các ngân hàng. Mục đích chủ yếu trong việc đi vay của ngân hàng là để bổ sung vốn trong các hoạt động của mình bên cạnh nguồn vốn từ tiền gửi. Một trong những mục đích của việc đi vay là để đáp ứng khả năng thanh khoản của NHTM và vay để cấp tín dụng.
Để huy động vốn vay, NHTM sẽ phát hành trái phiếu hoặc kỳ phiếu với lãi suất cố định để vay từ các cá nhân, doanh nghiệp cả trong và ngoài nước với cam kết hoàn lại cả gốc và lãi khi các giấy tờ này đáo hạn. Ngoài ra, NHTM có thể vay trực tiếp các NH khác trên thị trường liên ngân hàng hoặc vay từ NHNN qua hình thức tái cấp vốn 21 Cấp tín dụng a. Cho vay Một trong những chức năng quan trọng nhất của NHTM là chức năng luân chuyển vốn trong nền kinh tế.