CHƯƠNG 1. NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN - PHÁP LY VE XU PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG HOẠT ĐỘNG CÁP TÍN DỤNG CỦA CÁC TỎ CHỨC TÍN DỤNG 1. Khái quát về vi phạm hành chính và vi phạm hành chính trong hoạt động cấp tín dụng của các tô chức tín dụng 1. Khái niệm vi phạm hành chính Theo Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012: “Vi phạm hành chính là hành vi có lôi do cá nhân, tô chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xứ phạt vi phạm hành chính ”“ Như vậy, vi phạm hành chính có những đặc điểm sau: Thứ nhất, vi phạm hành chính là hành vi trái pháp luật.
“Hành vi mà cá nhân, tô chức thực hiện là hành vi xâm phạm các quy tắc quản by nhà nước và đã bị pháp luật hành chính ngăn cam. Việc bị ngăn cam thể hiện rõ rang trong các văn bản quy phạm pháp luật quy định về xử phạt vi phạm hành chính, theo đó, pháp luật quy định rằng những hành vi này sẽ bị xử phạt bằng các hình thức, biện pháp xử phạt hành chính "”. Cần lưu ý hành vi trái pháp luật có thê là trái với chính pháp luật hành chính hoặc trái với pháp luật của các nganh luật khác như dân sự, hôn nhân gia đình, đất đai. Chẳng hạn, Khoản 1 Điều 96 Luật Các Tổ chức tín dụng năm 2010 quy định: “T6 chức tin dụng phải lưu giữ hồ sơ tín dụng, bao gồm: Hợp dong cấp tín dụng và tài liệu ghỉ rõ mục dich sử dung vốn; hồ sơ về biện pháp bao dam; Bao cáo thực trạng tài chính của khách hàng,.
Trong khi đó, Điểm a Khoản 1 Điều 14 Nghị định số 88/2019/NĐ-CP sửa đổi năm 2023 1 Khoản 1 Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 2 Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Ha Nội, tr.338 quy định: “Phat tién từ 10.000 đồng đối với hành vi lưu giữ hô sơ cấp tín dụng không đúng quy định của pháp luật”. Như vay, đây là hành vi vi phạm hành chính nhưng lại trái với quy định của Luật Các Tổ chức tín dụng. Thứ hai, vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện “Vi phạm hành chính phải là hành vi có lôi thé hiện dưới hình thức cố y hoặc vô ý.
Noi cách khác, người thực hiện hành vi này phải trong trạng thải có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình nhưng đã vô tình, thiếu thận trọng mà không nhận thức được hành vi cua mình là nguy hiểm cho xã hội (lỗi v6 ý) hoặc nhận thức được điều đó nhưng vẫn cố tình thực hiện (lôi cố ÿ) ””. Cần lưu ý rang, theo pháp luật hành chính, lỗi chi được chia thành hai hình thức lỗi nhưng theo Bộ luật hình sự, lỗi được chia thành bốn hình thức lỗi là: lỗi cô ý trực tiếp, lỗi cô ý gián tiếp, lỗi vô ý vì quá tự tin, lỗi vô ý do cau thả. Sở dĩ như vậy là do, vi phạm hành chính là những hành vi có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp hơn so với tội phạm, mặt khác, đối với tội phạm thì cảng chia nhỏ hình thức lỗi thì việc xác định tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi càng chính xác, căn cứ vào đó thì chủ thé có thâm quyền có thê định tội, định khung hình phạt, trong khi đó việc chia nhỏ hình thức lỗi đối với vi phạm hành chính là không cân thiết. Chủ thê thực hiện vi phạm hành chính có thé là cá nhân hoặc tô chức.
Có những vi phạm hành chính chi do cá nhân thực hiện, có những vi phạm hành chính chi do tổ chức thực hiện nhưng có những vi phạm hành chính có thể do cá nhân hoặc tô chức thực hiện. Việc xác định chủ thé thực hiện vi phạm hành chính là cá nhân hay tổ chức có ý nghĩa quan trong, đặc biệt là đối với những vi phạm hành chính bi áp dụng hình thức phạt tiền. “Đối với cùng một hành vi Ỷ Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr.339 10 vi phạm hành chính thì mức phat tiên đổi với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân ”?.
Thứ ba, vi phạm hành chính có mức độ nguy hiểm thấp hơn tội phạm. “Dấu hiệu căn bản dé phán biệt vi phạm hành chính với tội phạm là mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm. Vé dai thé, vi pham hanh chinh có mức độ nguy hiểm thấp hơn so với tội phạm. Mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm được đánh giá ở nhiều yếu tổ khác nhau và những yếu tổ nay được ghi nhận trong các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”.
Các căn cứ đánh giá mức độ nguy hiểm cho xã hội của vi phạm hành chính và tội phạm bao gồm: mức độ thiệt hại (gia tri tai sản bi xâm hại, giá tri hàng hóa vi phạm, mức độ thương tật. ); công cụ, phương tiện, thủ đoạn thực hiện hành vi vi phạm; số lần vi phạm (nhiều trường hợp bị coi là tội phạm khi đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc đã bị kết án về hành vi đã thực hiện (hoặc các hành vi khác có tính chất tương tự). 8 Thứ tư, theo quy định phải bị xử phat vi phạm hành chính. Đặc điểm này có tính quy kết, tức là một hành vi dù thỏa mãn ba dấu hiệu ở trên là: (1).
Trái pháp luật, (2). Có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, (3). Mức độ nguy hiểm thấp hơn tội phạm nhưng nếu không được quy định trong các Nghị định xử phạt về vi phạm hành chính thì không phải là vi phạm hành chính. Khái niệm vi phạm hành chính trong hoạt động cấp tin dung của các tổ chức tín dụng Hiện nay, chưa có định nghĩa về vi phạm hành chính trong hoạt động cấp tín dụng của các tô chức tin dụng nhưng có một số định nghĩa liên quan, đó là 4 Điểm e Khoản 1 Điều 3 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 i Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật Hanh chính Việt Nam, Nxb.
Công an nhân dân, Ha Nội, tr.342 °“ Nguyễn Hoàng Việt (2019, Phân biét vi phạm hành chính và tội phạm, https:/moJ.vn/qt/tntuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2466, truy cập ngày 18/12/2023 11 định nghĩa về tổ chức tín dụng, định nghĩa về cấp tín dụng, cụ thé như sau. Điều 4 Luật Các Tổ chức tín dung năm 2010 quy định: “76 chức tin dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một s6 hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng. Tổ chức tin dung bao gồm ngân hàng, tô chức tin dụng phi ngân hàng, tô chức tài chính vi mô và quỹ tin dụng nhân dân `” “Ngân hàng là loại hình tô chức tin đụng có thé được thục hiện tat cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hang thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hop tác xã ””.
“Tổ chức tin dụng phi ngân hàng là loại hình tô chức tin dung được thực hiện một hoặc một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này, trừ các hoạt động nhận tiền gui của ca nhân và cung ung các dich vụ thanh toan qua tài khoản của khách hàng. Tổ chức tin dung phi ngân hàng bao gồm công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các tô chức tin dụng phi ngân hang khác 'Ÿ. “Tổ chức tài chính vi mô là loại hình tô chức tin dụng chủ yếu thực hiện một số hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ °°. “Quỹ tín dụng nhân dân là tô chức tín dung do các pháp nhân, ca nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập dưới hình thức hợp tác xã dé thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này và Luật hợp tác xã nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống”, Khoản 14 Điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 quy định: “Cấp tin dụng là việc thỏa thuận dé tô chức, cá nhân sử dung một khoản tiên hoặc 7 Khoản 2 Điều 4 Luật Các Tổ chức tin dung năm 2010 Š Khoản 2 Điều 4 Luật Các Tổ chức tin dung năm 2010 ° Khoản 5 Điều 4 Luật Các Tổ chức tín dung năm 2010 19 Khoản 6 Điều 4 Luật Các Tổ chức tin dụng năm 2010 12 cam kết cho phép sử dụng một khoản tiễn theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khẩu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tin dụng khác `.
“Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền dé sử dung vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả góc và lãi”. “Chiết khẩu là việc mua có ky hạn hoặc mua có bảo lưu quyén truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán ”'?, “Bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, ban hàng hod, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua, ban hàng hoa, cung ung dịch vụ HH “Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tin dụng, theo đó tô chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tin dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không day đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tô chức tin dung theo thỏa thuận a Kết hợp với định nghĩa vi phạm hành chính ở trên, có thê hiểu vi phạm hành chính trong hoạt động cấp tín dụng của các tô chức tín dụng là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quán lý nha nước trong lĩnh vực cấp tín dụng mà không phải là tội phạm va theo quy định của pháp luật phải bi xử phạt vi phạm hành chính.