Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nợ thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục thuế cấp quận. Chương 2: Phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn. Chương 3: Thực trạng quản lý nợ thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục thuế quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội. Chương 4: Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nợ thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục thuế quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.
4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NỢ THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUÔC DOANH TẠI CHI CỤC THUẾ CẤP QUẬN. Tổng quan về tình hình nghiên cứu của luận văn. Trên thực tế có rất nhiều các nghiên cứu khoa học về quản lý nợ thuế, các nghiên cứu đó đều có những đặc điểm riêng biệt và ở các địa điểm khác nhau.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài quản lý nợ thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục thuế quận Hoàng Mai, tác giả đã tham khảo một số nghiên cứu khoa học nhƣ sau : Nguyễn Việt Trung (2015), “ Quản lý nợ thuế trên địa bàn huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương ”, Luận văn thạc sĩ kinh tế, trƣờng Đại học Thƣơng Mại. Trong công trình nghiên cứu này tác giả đã đƣa ra đƣợc cơ sở lý luận về quản lý nợ thuế và cũng đã phân tích đƣợc thực trạng của quản lý nợ thuế ở Chi cục thuế huyện Cẩm Giàng, từ đó tác giả cũng đã đề ra đƣợc các giải pháp rất xác đáng. Công trình nghiên cứu trên địa bàn huyện Cẩm Giàng, nên ở nghiên cứu này có thể tham khảo đƣợc một số bài học kinh nghiệm về công tác quản nợ thuế. Trần Thị Hạnh (2015), “ Quản lý nợ thuế đối với doanh nghiệp tại Chi cục Thuế huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương’’, Luận văn thạc sĩ kinh tế, trƣờng Đại Học Thƣơng Mại.
Trong đề tài này, tác giả chƣa nghiên cứu với chuyên ngành là quản lý kinh tế. Tuy nhiên tác giả cũng đã đƣa ra những nhận định và những đánh giá sắc nét. Cho nên, công trình nghiên cứu này chỉ có thể tham khảo ở một số điểm có sự tƣơng đồng về công tác quản lý nợ thế đối với doanh nghiệp. Lê Văn Hòa (2014), “Quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế đối với doanh nghiệp tại chi cục thuế Kim Thành, tỉnh Hải Dương ’’, Luận văn thạc sĩ kinh tế, trƣờng Đại Học Thƣơng Mại.
Trong đề tài này, tác giả đã đƣa ra đƣợc các 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cơ sở lý luận cơ bản về vấn đề nợ thế, quản lý nợ thuế, cƣỡng chế nợ thuế; tác giả cũng đã chỉ ra đƣợc các khó khăn, thuận lợi trong công tác quản lý nợ thuế và cƣỡng chế nợ thuế trên đại bàn huyện Kim Thành, từ đó đề xuất một số giải pháp để nhằm nâng cao hiệu quả hơn nữa trong công tác này. Nguyễn Việt Hà (2010), “Quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế tại địa bàn huyện Đông Anh – thành phố Hà Nội’’, Luận văn thạc sĩ kinh tế, trƣờng Đại Học Kinh Tế. Trong đề tài luận văn này, tác giả đã hệ thống hóa đƣợc các lý luận về chính sách; biện pháp quản lý nợ thuế; cƣỡng chế nợ thuế. Ngoài ra tác giả cũng đã nêu ra đƣợc một số hiệu quả khi áp dụng các ứng dụng tin học quản lý nợ thuế tại huyện Đông Anh, và nêu ra hiệu quả của việc tuyên truyền, đôn đốc trong công tác thu hồi nợ thuế trên địa bàn.
Vì vậy, ở công trình nghiên cứu này có thể làm tài liệu tham khảo một số vấn đề về việc áp dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý nợ thuế và một số kinh nghiệm về công tác quản lý nợ thuế. Từ việc tham khảo các tài liệu mang tính tiêu biểu kể trên, tác giả đã nhìn nhận thấy đƣợc các vấn đề chung về cơ sở lý luận, việc áp dụng công nghệ thông tin, …trong công tác quản lý nợ thuế, cũng nhƣ việc vận dụng các vấn đề đó vào để đánh giá thực trạng quản lý quản lý nợ thuế , từ đó có những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện hơn công tác quản lý nợ thuế ở các đơn vị đó. Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại thì chƣa có công trình nghiên cứu nào về: “Quản lý nợ thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục thuế quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội ” dƣới góc độ quản lý kinh tế. Chính vì thế việc nghiên cứu đề tài này là cấp thiết và có tính mới so với những nghiên cứu trƣớc đó.
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Cơ sở lý luận về quản lý nợ thuế. Khái quát về thuế và nợ thuế 1. Khái niệm thuế Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định, nhằm sử dụng cho mục đích công cộng, người ta có thể hiểu khái niệm về thuế theo nhiều góc độ khác nhau như sau: Trên góc độ phân phối thu nhập: “ Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước”.
Trên góc độ người nộp thuế: “ Thuế là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho nhà nước theo luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước”. Trên góc độ kinh tế học: “ Thuế là một biện pháp đặc biệt, theo đó, nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của nhà nước”. Đặc điểm của thuế. Thuế là khoản thu mang tính bắt buộc.
Tính bắt buộc xuất phát từ việc nhà nước là người cung ứng phần lớn hàng hóa công cộng cho xã hội. Đặc tính của hàng hóa công cộng là có thể sử dụng chung và khó có thể loại trừ. Ít có người dân nào tự nguyện trả tiền cho việc thụ hưởng hàng hóa công cộng do nhà nước đầu tư cung cấp như Quốc phòng, môi trường, pháp luật, vệ sinh phòng dịch…. Vì vậy, để đảm bảo nhu cầu chi tiêu công cộng, nhà nước phải sử dụng quyền lực của mình để nhân dân phải nộp 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thuế cho nhà nước.Tính bắt buộc của thuế thể hiện nghĩa vụ đóng góp của mọi công dân đối với lợi ích công cộng của toàn xã hội.Tính bắt buộc này thường được ghi nhận trong hiến pháp của các quốc gia.
Hiến pháp Việt Nam năm 1992 quy định ở điều 80:“ Công dân có nghĩa vụ đóng thuế và lao động công ích theo quy định của pháp luật”. Các luật thuế sẽ do các cơ quan quyền lực nhà nước ấn định, ban hành tránh việc thu thuế tùy tiện. Ví dụ như khoản 4 điều 84 của Hiến pháp Việt Nam 1992 (sửa đổi bổ sung năm 2001) có quy định rằng chỉ có Quốc hội mới có quyền quy định, sửa đổi, bãi bỏ các thứ thuế. Thuế là khoản thu của ngân sách nhà nước mang tính không hoàn trả trực tiếp và không đối giá.
Số tiền thuế phải nộp không gắn trực tiếp với lợi ích cụ thể mà người nộp thuế được hưởng từ hàng hóa công cộng do nhà nước cung cấp. Các cá nhân, tổ chức thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước không có quyền đòi hỏi nhà nước phải cung cấp trực tiếp cho họ một lượng hàng hóa dịch vụ cụ thể nào đó. Tuy nhiên, cá nhân và tổ chức có quyền nêu ý kiến của mình nếu như những gì mà họ nhận được từ sự đầu tư của nhà nước là quá thấp trong khi số thuế họ phải nộp quá cao hoặc họ cũng có thể kiểm tra việc chi tiêu của ngân sách nhà nước thông qua đại biểu của họ ở các cơ quan đại diện (như Quốc hội, Hội đồng nhân dân…) và thông qua các báo cáo thường niên của cơ quan này. Đặc điểm này của thuế nhằm phân biệt giữa thuế với phí và lệ phí.
Phí và lệ phí cùng là khoản thu mang tính chất bắt buộc nhưng tính bắt buộc của phí và lệ phí gắn trực tiếp với việc khai thác và hưởng thụ lợi ích từ những dịch vụ công cộng nhất định do nhà nước cung cấp mà theo quy dịnh của pháp luật có thu phí hoặc lệ phí. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Khái niệm nợ thuế Một trong những đặc trưng quan trọng của thuế là mang tính pháp lý cao. Mỗi khoản thuế phát sinh được xác định trên cơ sở thu nhập của người nộp thuế và sẽ trở thành khoản nộp bắt buộc mà người nộp thuế phải có nghĩa vụ chuyển giao cho Nhà nước.
Tuy nhiên, trong thực tiễn vì những lý do nào đó, người nộp thuế chưa nộp hoặc không nộp thuế cho Nhà nước theo thời hạn quy định, hình thành một khoản nợ thuế. Nợ thuế là hiện tượng người nộp thuế không nộp đầy đủ và đúng hạn số thuế phải nộp vào NSNN theo quy định của pháp luật về thuế. Có thể hiểu nợ thuế ở khía cạnh đầy đủ hơn là tiền nợ thuế như sau: Tiền nợ thuế là khoản tiền được xác định là phải nộp vào NSNN đúng theo quy định của pháp luật nhưng hiện nay vẫn chưa được thực hiện và còn tồn đọng ở những đối tượng nợ thuế có trách nhiệm nộp khoản thuế này cho các cơ quan Nhà nước. Tại Quyết định số 1395/QĐ-TCT của Tổng Cục trưởng Tổng Cục thuế ngày 04/10/2011 về việc ban hành quy trình quản lý nợ thuế có định nghĩa tiền nợ thuế như sau: “ Tiền thuế nợ là các khoản tiền thuế, phí, lệ phí, phạt chậm nộp và các khoản phải nộp khác theo quy định của pháp luật về thuế mà người nộp thuế đã kê khai, cơ quan thuế đã tính; các cơ quan chức năng phát hiện và thông báo cho cơ quan thuế, cơ quan thuế xác định đây là nghĩa vụ của người nộp thuế và đã thông báo cho người nộp thuế nhưng đã hết thời hạn quy định mà chưa nộp vào NSNN ”.
Người nợ thuế: Là người nợ thuế có khoản tiền thuế nợ theo định nghĩa nêu trên. Khoản nợ: là số tiền thuế nợ được xác định theo từng lần phát sinh.