Chương 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÃ HỘI HÓA DỊCH VỤ CÔNG CHỨNG 1. Tình hình nghiên cứu về công chứng Với vai trò của mình, công chứng là vấn đề từng được nhiều đề tài khoa học nghiên cứu. Mỗi đề tài lựa chọn một phương diện, một góc độ nghiên cứu khác nhau, trên phạm vi đơn vị hành chính khác nhau.
Dưới đây là một số công trình nghiên cứu khoa học: 1. Một số nghiên cứu trên thế giới Sách “Functions and duties of a california notary public” (tạm dịch: Chức năng và nhiệm vụ của một CCV California) của Bộ phận công chứng & hồ sơ đặc biệt thuộc Bộ Ngoại giao năm 2017. Tài liệu cung cấp các nội dung cơ bản liên quan đến hoạt động của CCV sau khi vượt qua kỳ thi CCV theo quy định của pháp luật bang California, Hoa Kỳ. Cụ thể: Việc đăng ký hành nghề trong một TCHNCC; Trình tực thủ tục thực hiện hoạt động công chứng (bao gồm: các công cụ cần thiết để hoạt động như một CCV; các loại hành vi công chứng; lệ phí thực hiện hoạt động công chứng; Hành vi bị cấm đối với CCV hoặc những người khác liên quan đến hoạt động công chứng.
Cuốn sách đã cung cấp các nhiệm vụ của CCV và những vấn đề cơ bản nhất về hoạt động công chứng tại bang California, Hoa Kỳ [75]. Bài viết "What is the notary's duty?" (tạm dịch: Nhiệm vụ của CCV là gì?) của tác giả Tanya Robertson trên trang thông tin của Hiệp hội công chứng Mỹ (American Association of Notaries) đã trình bày các nhiệm vụ của một CCV tại Mỹ. Theo đó, một CCV được coi là một viên chức nhà nước được bổ nhiệm bởi một chính phủ tiểu bang. Nhiệm vụ chính của một CCV là giúp ngăn chặn các hành vi gian lận, lừa đảo bằng cách chứng kiến việc ký các tài liệu và xác minh tính xác thực, hợp pháp của chúng; chứng nhận lời cam kết của các cá nhân và việc chịu trách nhiệm pháp lý nếu cá nhân đó cung cấp thông tin sai lệch.
Để thực hiện nhiệm vụ của mình, CCV phải xây dựng hồ sơ công chứng và phải lưu giữ cẩn thận. Pháp luật các bang tại Mỹ thường yêu cầu mỗi CCV phải ghi chi tiết các nội dung liên quan đến việc 11 công chứng như: ngày tháng thực hiện hoạt động công chứng, tên và địa chỉ của người ký, giấy tờ mà CCV xác minh danh tính người ký (cho dù cá nhân CCV có biết người ký tên hay không) và mô tả ngắn gọn về những gì được công chứng. Bài viết đã chỉ ra các nhiệm vụ cụ thể của một CCV tại Mỹ, đặc biệt là nhiệm vụ lưu giữ hồ sơ, giấy tờ liên quan đến công chứng. Đây là cơ sở để so sánh với hoạt động công chứng ở Việt Nam và rút ra những kinh nghiệm có thể áp dụng trong việc quy định quyền, nghĩa vụ của CCV tại Việt Nam [85].
Bài viết “The role of notary in deed of sale and purchace agreement to support national development” (tạm dịch: Vai trò của công chứng trong hợp đồng bán hàng và hợp đồng mua sắm để hỗ trợ sự phát triển của quốc gia) của Luật sư Hasyim Mustofa trên tạp chí Pembaharuan Hukum Tập IV Số 2 (tháng 8/2017). Bài viết đã nêu lên vai trò quan trọng của hoạt động công chứng trong việc thực hiện ký kết các hợp đồng mua bán. Theo đó khi công chứng, CCV phải luôn quan tâm đến tính xác thực của việc giao kết hợp đồng; đến điều kiện, tình trạng của tài sản; đến tính hợp pháp của nội dung hợp đồng. Vì vậy, hợp đồng đã được CCV chứng nhận sẽ được coi là một bằng chứng hoàn hảo của việc ký kết hợp đồng mua bán giữa các bên.
Hợp đồng đã được công chứng sẽ có tính ràng buộc sự tham gia thực hiện của các bên. Đồng thời, hợp đồng được công chứng có thể được sử dụng như một bằng chứng hoàn hảo khi các bên xảy ra tranh chấp và khởi kiện tại tòa án. Như vậy, công chứng giúp ngăn ngừa các sai phạm trong việc giao kết hợp đồng, đảm bảo các hợp đồng được ký kết theo đúng quy định của pháp luật. Đồng thời, công chứng giúp các bên có thể phòng trừ được những rủi ro có thể xảy ra.
Điều đó cho thấy, hoạt động công chứng đã góp phần ngăn chặn được các sai phạm, các tranh chấp, khiếu kiện kéo dài giữa các bên trong giao kết hợp đồng, từ đó góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. Bài viết đã nêu được vai trò của hoạt động công chứng và sự đề cao hoạt động công chứng tại các nước trên thế giới [81]. 12 Bài viết “Why a notary journal is required” (tạm dịch: Tại sao nhật ký công chứng là cần thiết) của tác giả Tim Gatewood trên trang thông tin của Hiệp hội công chứng Mỹ (American Association of Notaries). Quyển nhật ký công chứng được coi là một tài liệu chính thức cần có của CCV.
Quyển nhật ký của CCV cần ghi chép đầy đủ, cẩn thận tiến trình thực hiện hoạt động công chứng của một CCV. Mỗi quyển nhật ký công chứng cần ghi chép tất cả các vụ việc công chứng mà CCV tiếp nhận, không được xóa các trang hoặc bằng cách chèn các sự kiện trước khi chúng xảy ra. Nhật ký công chứng là một tài liệu rất cần thiết đối với mỗi CCV do nhiều lý do. Thứ nhất, một số lượng ngày càng tăng của các quốc gia đã thông qua hoặc đang xem xét áp dụng một hoặc một trong những luật công chứng mô hình lâu đời và tất cả đều yêu cầu cần phải có nhật ký công chứng.
Ngoài ra, một nhật ký công chứng được coi là bằng chứng của các sự kiện được nêu trong đó, giúp giải quyết các tranh chấp, khiếu kiện phát sinh. Thứ hai, nhật ký công chứng giúp CCV ghi lại diễn biến của các vụ việc công chứng và tiến trình hoạt động của các tổ chức hành nghề. Mặc dù hiện nay nhiệm vụ của các CCV đã thay đổi phần nào nhưng nhu cầu về một nhật ký chính thức về hành động của CCV ngày nay không kém phần quan trọng so với thời điểm trước kia. Lưu giữ một nhật ký công chứng hoặc sổ ghi chép đã là một phần của các văn phòng công chứng.
Thứ ba, nhật ký công chứng là một phương tiện quan trọng giúp CCV phòng ngừa những rủi rõ nghề nghiệp có thể xảy ra. CCV có nghĩa vụ phải biết những gì mình đã làm, những vụ việc mình đã đảm nhận giải quyết. Để nắm rõ những vụ việc đã thực hiện, CCV cần có sự ghi chép cẩn thận vào sổ nhật ký. Đây cũng là phương tiện giúp CCV tự bảo vệ mình nếu CCV bị khởi kiện ra tòa án về một vấn đề liên quan đến một tài liệu mà mình đã công chứng.
Bài viết đã phân tích cụ thể về một công cụ quan trọng trong hoạt động công chứng của CCV Mỹ - đó là sổ nhật ký công chứng. Đây có thể là một giải pháp hữu ích đối với các CCV Việt Nam trong việc quản lý hoạt động công chứng và bảo vệ lợi ích của bản thân trước những rủi ro nghề nghiệp luôn tiềm tàng [86]. 13 Bài viết The French notary (tạm dịch: CCV Pháp) của luật sư người Pháp Françoise Berton trên trang Berton & Associés (Berton và cộng sự). Bài viết đã giới thiệu các tiêu chuẩn để trở thành CCV Pháp và những vai trò quan trọng của CCV trong đời sống kinh tế - xã hội Pháp.
Theo đó, để trở thành CCV Pháp phải có bằng Thạc sỹ Luật, phải theo học chương trình đào tạo nghề CCV, phải trải qua thời gian tập sự lên đến hai năm tại các TCHNCC. Và cuối cùng để có thể trở thành CCV Pháp, các cá nhân phải tham dự kỳ thi sát hạch. Hoạt động chính của một CCV ở Pháp là cung cấp tư vấn pháp lý cũng như soạn thảo và ghi lại các văn bản pháp lý trong luật dân sự ngoài tranh tụng, đặc biệt là trong lĩnh vực bất động sản, luật gia đình và thừa kế cũng như luật doanh nghiệp (ví dụ: di chúc, thỏa thuận hôn nhân, thành lập công ty, hợp đồng mua bán bất động sản, v. CCV ở Pháp cũng có quyền xác thực chữ ký, đặc biệt đối với việc xác thực chữ ký ở Pháp nhằm mục đích ký kết thỏa thuận công chứng.
Bài viết khái quát hóa về nền công chứng Pháp và hoạt động của CCV tại Pháp. Đây sẽ là cơ sở để đúc rút một số kinh nghiệm có thể áp dụng cho Việt Nam [77]. Một số nghiên cứu tại Việt Nam Luận án Tiến sĩ Luật học “Những vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc xác định phạm vi, nội dung hành vi công chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng ở nước ta hiện nay” của tác giả Đặng Văn Khanh, Viện Nghiên cứu nhà nước và pháp luật năm 2000. Trên cơ sở nghiên cứu hệ thống các văn bản pháp luật trong và ngoài nước quy định về công chứng cũng như đúc kết từ thực tiễn hoạt động công chứng nước ta, Luận án đã góp phần làm sáng tỏ khái niệm và bản chất công chứng.
Luận án xác định công chứng là việc CCV, người có thẩm quyền công chứng tạo lập ra những văn bản, hợp đồng mà đương sự phải hoặc muốn tạo cho chúng có giá trị pháp lý như những văn bản của CQNN. Khái niệm đã xác định được rõ ràng chủ thể thực hiện công chứng là CCV, chỉ rõ phạm vi công chứng dựa trên hai yếu tố: những giấy tờ, hợp đồng theo quy định của pháp luật phải công chứng và những giấy tờ, hợp đồng tuy pháp luật không bắt buộc công chứng nhưng đương sự muốn công 14 chứng. Tuy nhiên, khái niệm công chứng mà Luận án đưa ra lại giới hạn hoạt động công chứng là một hoạt động gắn liền với quyền lực nhà nước, do những cá nhân thuộc nhà nước thực hiện. Ngoài khái niệm công chứng, Luận án đã xây dựng khái niệm và cách xác định nội dung hành vi công chứng, đưa ra nhiều kiến nghị quan trọng và mang tính khả thi trong việc hoàn thiện quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục thực hiện hành vi công chứng.
Đặc biệt, Luận án đã xây dựng khái niệm văn bản công chứng, xác định hình thức pháp lý và hình thức cấu trúc của văn bản công chứng, chỉ ra hai giá trị pháp lý cơ bản của văn bản công chứng là giá trị chứng cứ và giá trị thực hiện.