phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn đƣợc trình bày theo 3 chƣơng với tên gọi nhƣ sau: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về QLNN trong hoạt động Viễn thông. - Chƣơng 2: Thực trạng QLNN về hoạt động Viễn thông tại Thành phố Đà Nẵng. - Chƣơng 3: Giải pháp tăng cƣờng công tác QLNN về hoạt động Viễn thông trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Sách “Quản lý Nhà nƣớc về bƣu chính, viễn thông và công nghệ thông tin”, TS Lê Minh Toàn, NXB Chính trị quốc gia, năm 2012 đề cập đến các nội dung cơ bản liên quan đến công tác quản lý Nhà nƣớc về bƣu chính, viễn thông, công nghệ thông tin bao gồm: hệ thống cơ quan quản lý, quản lý Nhà nƣớc về bƣu chính, viễn thông, công nghệ thông tin, tần số vô tuyến điện, internet, thanh tra và xử lý vi phạm về thông tin và truyền thông.
Cuốn sách này cũng đã hệ thống hóa lịch sử ngành Bƣu chính Viễn thông Việt Nam từ năm 1945 đến nay nêu bật những chính sách của Nhà nƣớc đối với ngành Bƣu chính Viễn thông theo từng giai đoạn: từ năm 1945 đến 1995 ngành Bƣu điện vừa thực hiện chức năng quản lý Nhà nƣớc vừa thực hiện nhiệm vụ đảm bảo cung cấp dịch vụ Bƣu chính viễn thông cho Nhà nƣớc, doanh nghiệp, ngƣời dân; đến sau năm 1995, Nhà nƣớc chủ trƣơng cho phép cạnh tranh trong lĩnh vực Bƣu chính viễn thông, vì thế cần phải tách bạch chức năng quản lý Nhà nƣớc ra khỏi ngành Bƣu điện; đến năm 1996 Nhà nƣớc chủ trƣơng thành lập Tổng cục Bƣu điện nhằm thống nhất công tác quản lý lĩnh vực bƣu chính viễn 5 thông, là cơ sở để sau này thành lập Bộ Thông tin truyền thông. Giáo trình “Quản lý Nhà nƣớc về Bƣu chính viễn thông và công nghệ thông tin”, Ths Dƣơng Hải Hà, Học viện Bƣu chính Viễn thông, Hà Nội, năm 2007 cung cấp nội dung liên quan đến công tác quản lý Nhà nƣớc về kinh tế, tập trung vào từng lĩnh vực bƣu chính, viễn thông và công nghệ thông tin, cơ sở lý luận chủ yếu dựa vào Pháp lệnh Bƣu chính viễn thông năm 2002. Lịch sử Bƣu điện Việt Nam, TS Mai Liêm Trực; GS, TS Đỗ Trung Tá, NXB Bƣu điện, năm 2002. Các tác giả đã tập trung làm rõ quá trình phát triển của Bƣu điện Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2000, trong đó nêu rõ đặc điểm của ngành Bƣu điện qua thời kỳ độc quyền Nhà nƣớc đến thời kỳ cạnh tranh, vừa mang tính chất phục vụ Nhà nƣớc và xã hội, vừa mang tính chất quản lý Nhà nƣớc.
Đặc biệt, cuốn sách này cung cấp cho ngƣời đọc những văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nƣớc đối với ngành bƣu chính, viễn thông qua các thời kỳ. Luận án Tiến sỹ “Phát triển ngành viễn thông Việt Nam đến năm 2020” Trần Đăng Khoa, Trƣờng Đại học Kinh tế Hồ Chí Minh năm 2007. Tác giả đã tập trung phân tích thực trạng của ngành viễn thông Việt Nam giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2006, dự báo tính toán về số lƣợng thuê bao tăng trƣởng, kết hợp với xu hƣớng công nghệ thế giới, từ đó đƣa ra các khuyến nghị về mục tiêu tăng trƣởng của ngành viễn thông Việt Nam đến năm 2020 cũng nhƣ đề xuất các chính sách liên quan đến công tác quản lý, hoạch định chính sách, thu hút vốn, nguồn lực cho việc phát triển ngành viễn thông Việt Nam. Báo cáo đề tài khoa học và công nghệ “Nghiên cứu, xây dựng mô hình tổ chức cơ quan quản lý viễn thông Việt Nam” do Nguyễn Tiến Sơn – Cục Viễn thông – Bộ Thông tin truyền thông chủ trì nghiên cứu, đề xuất năm 2011.
Tác giả nghiên cứu hiện trạng cơ quan quản lý viễn thông tại Việt Nam, mô hình của một số nƣớc nhƣ Anh, Singapore, Malaysia, Trung Quốc, khuyến nghị của ITU, từ đó đƣa ra đề xuất thành lập cơ quan quản lý viễn thông tại Việt Nam. 6 Báo cáo đề tài khoa học và công nghệ “Nghiên cứu xu hƣớng phát triển mạng xã hội và đề xuất chính sách định hƣớng phát triển mạng xã hội tại Việt Nam” do Đỗ Công Anh – Viện chiến lƣợc thông tin và truyền thông – Bộ Thông tin và truyền thông nghiên cứu, đề xuất năm 2011. Tác giả đã phân tích xu hƣớng sử dụng mạng xã hội sẽ đƣợc phổ biến rộng rãi, những tác động của mạng xã hội đến ngƣời dùng, đặc biệt trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, so sánh với công tác quản lý mạng xã hội ở một số quốc gia nhƣ Hàn Quốc, Trung Quốc, EU .v từ đó tác giả đƣa ra các khuyến nghị về chính sách quản lý đối với mạng xã hội nhƣ bổ sung thêm các thông tƣ nghị định về quản lý nội dung trên mạng xã hội, sử dụng các biện pháp kỹ thuật để hạn chế tác động xấu của mạng xã hội đối với tình hình an ninh chính trị tại Việt Nam. Báo cáo đề tài khoa học và công nghệ “Nghiên cứu đề xuất chính sách quản lý Internet phù hợp với quy định mới của pháp luật về viễn thông” do Nguyễn Thành Chung – Cục Viễn thông chủ trì nghiên cứu năm 2011.
Tác giả đã đƣa ra các số liệu thống kê, đánh giá về tình hình thị trƣờng viễn thông tại Việt Nam từ năm 2006 đến 2010, trong đó tập trung vào dịch vụ Internet và các nhà cung cấp dịch vụ Internet, nêu lên những quy định mới của Nhà nƣớc về công tác quản lý dịch vụ Internet, đặc biệt là trò chơi trực tuyến, các đại lý Internet. Tác giả cũng đã so sánh công tác quản lý tại một số nƣớc có dịch vụ Internet phát triển nhƣ Mỹ, Anh, Úc, Trung Quốc, Hàn Quốc, từ đó đƣa ra khuyến nghị nên bổ sung nghị định hƣớng dẫn chi tiết thi hành việc quản lý chặt chẽ các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ nội dung trên nền Internet nhƣ game online; nhắn tin, quảng cáo .v Các công trình trên đều có nội dung rất rộng, liên quan đến các lĩnh vực quản lý Nhà nƣớc về bƣu chính, viễn thông và công nghệ thông tin ở các nƣớc phát triển cũng nhƣ tại Việt Nam. Mặt khác, do viễn thông là ngành có công nghệ thay đổi nhanh chóng, liên tục, nên một số khuyến nghị về chính 7 sách quản lý Nhà nƣớc trong các sách hoặc đề tài nêu trên sẽ không phù hợp với điều kiện hiện tại ở nƣớc ta. Ngoài ra, đối với Thành phố Đà Nẵng, chƣa có một đề tài nào nghiên cứu đến thực trạng công tác quản lý Nhà nƣớc về Viễn thông, và đƣa ra các khuyến nghị phù hợp cho Thành phố Đà Nẵng về công tác hoạch định, quản lý, thực thi hoạt động viễn thông.
Vì vậy đề tài “Quản lý Nhà nƣớc về hoạt động Viễn thông trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng” đƣợc lựa chọn có tính kế thừa nhƣng không trùng lặp, đảm bảo cơ sở lý luận và tính thời sự. 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QLNN TRONG HOẠT ĐỘNG VIỄN THÔNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG QLNN VỀ HOẠT ĐỘNG VIỄN THÔNG 1. Khái niệm, đặc điểm về viễn thông a.
Khái niệm về Viễn thông Theo Tổ chức Thƣơng mại thế giới WTO, Viễn thông là việc truyền dẫn thông tin giao tiếp qua khoảng cách địa lý [06]. Theo định nghĩa của Thƣơng mại thế giới WTO, Viễn thông chỉ thực hiện nhiệm vụ truyền dẫn thông tin, có nghĩa là tín hiệu đƣợc truyền từ điểm này đến điểm khác, không bao gồm việc xử lý thông tin. Ngoài ra, WTO không chỉ rõ thông tin là bao gồm những nội dung gì, cũng nhƣ không thể hiện rõ môi trƣờng để truyền tải thông tin. Theo Tổ chức Liên minh Viễn thông thế giới ITU, Viễn thông là tất cả sự chuyển tải, truyền dẫn hoặc thu phát các ký hiệu, tín hiệu, chữ viết, âm thanh, hình ảnh, giọng nói, dữ liệu thông qua các dây dẫn, sóng vô tuyến, cáp quang, các phƣơng tiện vật lý hoặc các hệ thống điện từ khác [06].
Định nghĩa của Liên minh Viễn thông thế giới ITU có chỉ rõ, không chỉ làm nhiệm vụ truyền dẫn thông tin, Viễn thông còn có nhiệm vụ thu nhận và phát đi thông tin. Ngoài ra, nội dung thông tin trong định nghĩa của ITU rõ ràng hơn, bao gồm các thành phần nhƣ ký hiệu, tín hiệu, chữ viết, âm thanh, hình ảnh, giọng nói, dữ liệu. Trong định nghĩa của ITU còn đề cập đến môi trƣờng để truyền thông tin, bao gồm dây dẫn, sóng vô tuyến, cáp quang, các phƣơng tiện vật lý hoặc các hệ thống điện từ khác [08]. Theo Luật Viễn thông đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua năm 2009, Viễn thông là việc gửi, truyền, nhận và xử lý 9 ký hiệu, tín hiệu, số liệu, chữ viết, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng thông tin khác bằng đƣờng cáp, sóng vô tuyến điện, phƣơng tiện quang học và phƣơng tiện điện từ khác.
Đối với Việt Nam, khái niệm Viễn thông đƣợc hiểu theo nghĩa rộng hơn, điều này cũng phù hợp với sự phát triển của khoa học công nghệ trong thời gian gần đây. Thông tin không chỉ đƣợc gửi từ thiết bị gửi, truyền đi qua các phƣơng tiện truyền dẫn đến đƣợc thiết bị nhận mà còn đƣợc xử lý, mã hóa để đảm bảo việc bảo mật thông tin. Về phần thông tin đƣợc mở rộng, không chỉ là tín hiệu thoại đơn thuần, mà đó có thể là ký hiệu, tín hiệu, số liệu, chữ viết, hình ảnh, âm thanh và đƣợc truyền đi thông qua rất nhiều môi trƣờng truyền dẫn khác nhƣ nhƣ cáp, vệ tinh, sóng vô tuyến. Đặc điểm về viễn thông Về cơ bản, Viễn thông gồm ba thành phần chính: Thiết bị phát: tiếp nhận thông tin, xử lý và phát tín hiệu.
Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, trong những năm gần đây, các thiết bị viễn thông ngày càng đƣợc hiện đại hóa, tích hợp ứng dụng, tạo thuận lợi tối đa cho ngƣời sử dụng cũng nhƣ ngƣời vận hành, khai thác, quản lý mạng viễn thông. Chỉ với chiếc điện thoại di động cũng đã bao gồm cả thiết bị thu/phát/nhận/xử lý thông tin, chỉ với một phần mềm ứng dụng trên laptop cũng có thể thực hiện gửi/nhận/mã hóa các file hình ảnh, số liệu, âm thanh. Môi trường truyền dẫn: đảm bảo việc thông tin truyền đến nơi yêu cầu. Môi trƣờng truyền dẫn cũng đã đƣợc mở rộng, trƣớc đây việc truyền tín hiệu bị hạn chế về mặt không gian và thời gian.