Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Một số vấn đề trong hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa 1. Khái niệm về quản lý và quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa 1. Quản lý Trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển, đều phải tuân thủ và chịu một sự quản lý nào đó.
Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động, nảy sinh khi cần có nỗ lực tập thể để thực hiện mục tiêu chung. Quản lý diễn ra ở mọi tổ chức, từ phạm vi nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp. Trình độ xã hội hóa càng cao, thì yêu cầu quản lý càng cao và vai trò của quản lý càng tăng lên. Quản lý là một khái niệm có nội hàm rất rộng.
Từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, ở mỗi lĩnh vực hoạt động từ đó có thể đưa ra những khái niệm khác nhau về quản lý. Theo Hán Việt từ điển cho rằng: “Quản lý là sự trông nom, coi sóc, quản thúc, bó buộc ai đó theo một khuôn mẫu, quy định, nguyên tắc, luật pháp đã đề ra” [4, tr. Quản lý là sự kết hợp của ba phương diện: Một là, thông qua tập thể để thúc đẩy tính tích cực của cá nhân; hai là, điều hòa quan hệ giữa người với người, giảm mâu thuẫn giữa hai bên; ba là, tăng cường hợp tác hỗ trợ lẫn nhau, thông qua hỗ trợ để làm được những việc mà một cá nhân không thể làm được, thông qua hợp tác tạo ra giá trị lớn hơn giá trị cá nhân - giá trị tập thể. Trong hoạt động quản lý, phải có ít nhất một chủ thể quản lý (cá nhân hay cơ quan) và ít nhất một đối tượng quản lý (con người - một cá nhân hay nhiều người hoặc một bộ phận) gián tiếp hay trực tiếp nhận sự tác động của chủ thể quản lý.
Hoạt động quản lý nhằm đạt được một mục đích nhất định. Các yếu tố khác tạo nên môi trường của hệ thống, chính là khách thể của hoạt động quản lý. 9 Tóm lại, trong điều kiện môi trường luôn biến động không ngừng, hoạt động quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (cá nhân hay cơ quan) đến đối tượng và khách thể quản lý (con người - một cá nhân hay nhiều người hoặc một bộ phận) bằng hệ thống các luật lệ, chính sách, nguyên tắc, phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra. Quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa Quản lý nhà nước là quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước, các văn bản luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội chủ yếu và quan trọng của con người.
Điểm khác nhau cơ bản giữa quản lý nhà nước và quản lý khác là tính quyền lực nhà nước gắn liền với cưỡng chế nhà nước khi cần. Quản lý nhà nước được thực hiện bởi toàn bộ hoạt động của cơ quan trong bộ máy nhà nước. Trong lĩnh vực văn hóa, quản lý nhà nước về văn hóa là một hệ thống tác động có mục đích của Đảng, Nhà nước thông qua các chủ trương, chính sách, biện pháp và thực thi bằng pháp luật trong lĩnh vực văn hóa tư tưởng nhằm định hướng, điều khiển hoạt động, hành vi của các tổ chức, thành viên trong xã hội, khơi dậy tiềm năng sáng tạo, ý thức trách nhiệm trong việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, tạo ra sự ổn định xã hội trong quá trình phát triển đất nước. Hoặc có thể hiểu một cách ngắn gọn: Quản lý văn hóa là quản lý nhà nước về lĩnh vực văn hóa và quản lý hoạt động văn hóa.
Chính vì vậy, người làm công tác quản lý văn hóa phải có kiến thức quản lý Nhà nước bên cạnh kiến thức chuyên sâu về quản lý văn hóa và văn hóa. Hoạt động văn hóa là một dạng hoạt động xã hội quan trọng, tất yếu phải có sự quản lý của nhà nước, chính vì thế quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hóa là tất yếu khách quan, mang tính đặc thù riêng. Bởi thứ nhất, hoạt động văn hóa là một hoạt động sáng tạo, có thể tạo ra các sản phẩm văn hóa 10 mang giá trị lưu truyền từ đời này sang đời khác, làm giàu đẹp thêm, phong phú hơn cho cuộc sống, con người. Thứ hai, hoạt động văn hóa còn là hoạt động tư tưởng, có khả năng gây “hiệu ứng” (tốt hoặc xấu) trong xã hội.
Thứ ba, hoạt động văn hóa còn là hoạt động kinh tế vừa là động lực, vừa là nguồn lực trực tiếp cho sự phát triển kinh tế chung của xã hội. Thêm nữa tính đặc thù của quản lý văn hóa không những thể hiện trong từng lĩnh vực cụ thể của đời sống văn hóa, mà nó còn thể hiện ở công tác quản lý nhà nước về văn hóa ở các cấp, từ vĩ mô đến các đơn vị cơ sở. Bất kỳ lĩnh vực nào cũng cần có sự lãnh đạo và quản lý của nhà nước, vì vậy cần phải xác định rõ đối tượng thuộc phạm vi văn hóa mà nhà nước cần phải quản lý. Nhà nước quản lý và cần quản lý là đời sống văn hóa, hoạt động văn hóa.
Nhà nước đảm nhận một phần quan trọng trực tiếp quản lý những công trình văn hóa (công trình lịch sử văn hóa cũng như công trình nghệ thuật) và những cơ sở trực tiếp phục vụ nhu cầu văn hóa của nhân dân. Nhà nước là đại diện cho nhân dân để bảo đảm các quyền quy định trong hiến pháp của công dân về văn hóa, điều tiết sự hài hòa của cơ cấu văn hóa, lợi ích văn hóa của nhóm xã hội, các yêu cầu phát triển và đáp ứng đầy đủ nhu cầu văn hóa của toàn xã hội trước các mâu thuẫn, nghịch lý nảy sinh từ sự vận động, phát triển xã hội. Con người là chủ thể sáng tạo ra văn hóa và cũng là đối tượng hưởng thụ đời sống văn hóa. Văn hóa gắn liền với cuộc sống hàng ngày của người dân.
Mọi cử chỉ, lời nói và hành động đều thể hiện nét văn hóa riêng của mỗi con người. Hoạt động văn hóa là một hoạt động phức tạp diễn ra trên bình diện rộng trong tất cả các hoạt động xã hội. Vì thế, quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa thực chất là quản lý con người có khả năng điều tiết, tham gia các hoạt động văn hóa để thực hiện chức năng và nhiệm vụ đặt ra cho quá trình xây dựng và phát triển sự nghiệp văn hóa. Có nhiều cách diễn đạt khác nhau, nhưng thực chất của quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa là công việc của Nhà nước được thực hiện thông 11 qua việc ban hành các quy định, quy chế, chính sách, tổ chức triển khai, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật trên lĩnh vực văn hóa.
Quản lý hoạt động văn hóa còn được hiểu là sự tác động chủ quan bằng các hình thức, phương pháp của chủ thể quản lý (các cơ quan đảng, nhà nước, đoàn thể, các cơ cấu dân sự, các cá nhân được giao quyền và trách nhiệm quản lý) đối với khách thể (mọi thành phần, thành tố tham gia và làm nên đời sống văn hóa) nhằm thỏa mãn mục đích mong muốn đó là bảo đảm văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, nâng cao vị thế quốc gia và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân. Những nội dung cơ bản của quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa Quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa là sự lãnh đạo, điều hành, kiểm soát của các cơ quan văn hóa đối với các lĩnh vực được quy định Nhà nước bằng hệ thống pháp luật và bộ máy của mình tác động có tổ chức, có chủ đích nhằm tạo ra môi trường lành mạnh, chuẩn mực trong quá trình sáng tạo, lưu giữ, bảo quản, truyền bá, tiếp nhận và thưởng thức, đánh giá các hoạt động về văn hóa. Theo Vũ Thị Phương Hậu thì nội dung quản lý nhà nước về văn hóa ở nước ta tập trung vào vấn đề lập kế hoạch xây dựng và phát triển văn hóa trong từng giai đoạn để thực hiện đường lối và định hướng phát triển của Đảng đối với văn hóa. Thể chế văn hóa bao gồm hai loại hệ thống chuẩn mực: Chuẩn mực luật pháp và chuẩn mực phong tục tập quán [13, tr.
Hoạt động quản lý nhà nước về văn hoá bao gồm các mảng cơ bản sau: Quản lý nhà nước đối với văn hoá nghệ thuật; Quản lý nhà nước đối với văn hoá - xã hội; Quản lý nhà nước đối với di sản văn hoá. Cụ thể với các nội dung như: + Xây dựng, ban hành các chính sách và văn bản pháp luật về văn hoá 12 Chính sách văn hoá được hiểu là tổng thể những nguyên tắc thể hiện tư tưởng chủ đạo của Nhà nước về đường lối, phương hướng xây dựng và phát triển nền văn hoá. Chính sách văn hoá đặt ra các nguyên tắc chung của sự nghiệp phát triển văn hoá phù hợp với mục tiêu phát triển văn hoá chung của đất nước.Các chính sách về quản lý và phát triển văn hoá hiện nay có thể kể đến: sáng tạo các giá trị văn hoá; bảo tồn, phát huy tài sản văn hoá; phát triển văn hoá cơ sở; giao lưu văn hoá quốc tế; hiện đại hoá kỹ thuật và phương thức sản xuất, phân phối sản phẩm văn hoá; đào tạo, phát triển đội ngũ trí thức, văn nghệ sỹ; đảm bảo ngân sách, điều kiện pháp lý cho phát triển văn hoá; nâng cao tính tự quản và phân cấp quản lý văn hoá. Chính sách văn hoá có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về văn hoá song chính sách văn hoá không thể thay thế pháp luật.
Nhà nước ban hành các văn bản pháp luật về văn hoá nhằm phát huy tác dụng của văn hoá tới sự hình thành nhân cách, nâng cao chất hượng cuộc sống tinh thần của con người. Chẳng hạn: Trong quản lý nhà nước về văn hoá nghệ thuật, nhà nước ban hành các chính sách phát triển văn hoá sâu rộng trong quần chúng nhân dân, phát huy khả năng sáng tạo.